Nẻo Về Sen Nở (VI): Niềm an lạc khi đến pháp môn Làng Mai
Năm nay (2012) là sinh nhật lần thứ 30 của Làng Mai, với người đời tuổi 30 là tuổi tam thập nhi lập (tuổi lập thân) có tư duy vững vàng, có bãn lĩnh để trưởng thành. Với Làng Mai, thời gian gần một phần ba thế kỷ hoằng hóa đã chuyển hóa biết bao phận đời khổ đau, lạc đường. Thầy đã đưa giáo lý đạo Phật vào cuộc đời để nâng đỡ, dìu dắt làm vơi đi những khổ đau tăm tối, giúp cho mọi người tìm thấy sự an lạc, niềm vui trong cuộc sống. Quả lớn lao trong chặn đường dài đó, con mới chỉ đi được một phần trăm. Với thời gian khá khiêm tốn, khi bắt đầu ở tuổi 60, từ cơ duyên Thầy về Việt Nam và lưu lại hoằng pháp ở Huế.

Từ thuở còn là sinh viên, con đã đọc “Nẻo về của ý” của Thầy. Rồi “Nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện” và con thích nhất là “Cửa tùng đôi cánh gài”, quá sức hay.

Lá Bối xuất bản năm 1965

Con đã đọc đi đọc lại nhiều lần để chiêm nghiệm. Con rất thích thơ văn của Thầy. Rồi lần Thầy về đầu tiên, con đã có cơ duyên được thăm Thầy cùng với nhà con. Lúc đó Thầy bị ốm. Thầy nói rất ít, cho chúng con ngồi cùng bàn mà con rất sợ thất lễ. Rồi Thầy cho chụp hình chung, Thầy đã nhẹ nhàng đặt tay lên vai hai người và có tấm ảnh Thầy đã nhìn xuống con cười rất nhẹ và tươi như tưới nước cam lộ.

Sau khi được đảnh lễ Thầy Nhất Hạnh, Từ Hiếu tháng 3-2005

Thời gian sau con đã tìm đến Tổ đình Từ Hiếu để tu quán niệm ngày thứ bảy (thời gian đầu là ngày thứ bảy, nay đổi lại ngày chủ nhật). Cũng nhờ cơ duyên một sư cô mách bảo. Lần đầu tiên tu tập ở Tổ đình, con đã rất thích vì trong tâm tưởng của con vẫn mơ ước hình bóng ngày xưa của Đức Phật, nên mỗi lần thấy Tăng thân đi khất thực, lần nào con cũng xúc động ứa nước mắt. Rồi nghe pháp trong sự im lặng hùng tráng, ăn cơm trong chánh niệm, Quý thầy, quý sư cô dùng thức ăn gì thì chúng con dùng thức ăn ấy. Quý thầy ngồi trước, đại chúng ngồi sau. Bình đẳng, gần gũi như một đại gia đình rất ấm cúng và dễ thương. Ở chùa mọi người đều nói năng từ tốn, ái ngữ khiêm cung.

Lúc đầu, ngồi thiền hơi khó khăn đối với con vì đã lớn tuổi, hai đầu gối đau, con tự dặn lòng không thể bỏ cuộc, phải hết súc cố gắn, chịu đựng cho đến khi nghe chuông mới thở phào, nhưng dần dần quen và đôi khi thích ngồi thêm nữa. Chính ngồi thiền đã mang lại cho con niềm cảm hứng về thi ca. Trước đây con không nghĩ có ngày con sẽ làm thơ nhưng nhờ thiền và nhất là trong những buổi thiền trà, mình chỉ ngồi nghe mà không đóng góp tiết mục gì, con cảm thấy chưa nhập cuộc, chưa thực sự đi vào. Khi quý thầy thông báo sẽ có đại thiền trà sắp tới vì Tăng thân Bát Nhã sẽ về rất đông và trong con đã nảy ra ý định phải đóng góp một tiết mục gì. Thế là con đã nguyện hương hồn tác giả xin thay lời bài hát “Mỗi ngay tôi chọn một niềm vui” của Trịnh Công Sơn. Con đã dựa vào ý tưởng của bài con về nương tựa Bụt, tựa Pháp, tựa Tăng, phiền não xin nguyện đoạn, ân nghĩa xin nguyện đền và pháp môn xin nguyện học, để hát góp vui trong buổi thiền trà hôm đó.

Mỗi ngày con chọn một niềm vui

 

Mỗi ngày con chọn một niềm vui

Tìm đến tăng thân, tìm đến chùa chiền

Con chợt thấy mình như con chim nhỏ

Đậu cành dương liễu lại cành sen

 

Mỗi ngày con chọn một niềm vui.

Đọc sách Sư Ông rồi đến ngồi thiền

Con tập thấy đời bằng tâm quán chiếu

Đạo Bụt nhiệm mầu thật uyên nguyên

 

Mỗi ngày con chọn một niềm vui

Tìm đến tăng thân tìm thấy hiền hòa

Muôn triệu tấm lòng hòa theo nhịp thở

Để tình huynh đệ nở thành hoa

 

Mỗi ngày con chọn một niềm vui

Chăm sóc bông hoa tưới tẩm mình

Hoa đẹp muôn màu tạo thêm sức sống

Để lòng thanh thản nhẹ như không

 

Mỗi ngày con tụng một thời kinh

Cầu cho dân an thế giới hòa bình

Thiên hạ thái bình vang xa tiếng hát

Rộn rả tiếng cười buổi bình minh

 

Mỗi tuần con được một ngày yên

Tìm thấy an vui ở chốn cửa thiền

Con chọn nơi này làm nơi tu dưỡng

Để sống trong tình hiểu và thương

 

ĐK:

Và như thế con sống vui từng ngày

Và như thế con đến trong cuộc đời.

Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của con.

 

Con đã bắt đầu làm thơ từ đây. Thiền đã giúp khơi dậy chủng tử thi ca ở nơi con. Lúc đầu, ngồi thiền ngoài việc đau đầu gối, đôi khi không tập trung cao độ được (định) vì những thước phim về đời sống hay diễn lại trong đầu, nên con thực tập nương vào hơi thở để ổn định tâm trí, quán hơi thở đến quán từ bi và con cảm thấy lòng mình thanh thản. Đã có lúc con say sưa làm thơ ngay cả lúc nấu ăn và đi ngủ. Qua việc ngồi thiền con đã đúc kết  được qua một bài thơ.

                                                           Thiền

Công án của thiền một chữ không

Muốn tu cũng phải biết tinh không

Tất cả sự đời đều buông bỏ

Chỉ còn giữ lại cái tâm trong

Nhiếp tâm hành trì cho tinh tiến

Sẽ thấy an nhiên thảnh thơi lòng

Càng thiền càng thấy tâm thanh tịnh

An lạc đương nhiên sẽ chất chồng

Con đã đi gặt lúa nhiều lần cùng Tăng thân Tổ Đình, con đi theo yểm trợ quý thầy, quý sư cô mới thấy hết được nỗi gian nan, vất vả của việc đồng áng. Có lúc trời tháng tám dương lịch nhưng mưa tầm tã, lúa đã chín và có nơi lúa đã ngã xuống nước. Nơi bị ngập phải dùng ghe đẩy chở lúa, nơi nào cao thì cắt xong bó lại và gánh lên đường cái. Con đã thấy quý thầy gánh lúa chạy giữa đồng đến chỗ tập trung, tìm một góc ngồi thở, không nói nổi nhưng miệng vẫn cười, hình ảnh quá trân quý và xúc động. Quý sư cô còn trẻ măng, chân còn gót son thế mà cũng lội xuống cắt lúa, phải cột ống quần không thì đỉa đeo, tự nhiên con thấy trước mắt mình là một bức tranh quá đẹp. Hai gam màu vàng của lúa và nâu của áo quần, không đối chọi mà rất nổi, rất đẹp, con đã sáng tác bài:

Gặt lúa

          Giữa lúa vàng mênh mông

          Điểm màu áo nâu sồng

          Tăng thân đi gặt lúa

          Giữa lúa vàng mênh mông

           Với màu áo nâu sồng

          Đẩy ghe đi cắt lúa

          Đòn xóc trĩu hai đầu

          Chạy giữa đồng mênh mông

         

          Với màu áo nâu sồng

          Đem tâm sức lao động

          Mồ hôi đổ xuống đồng

          Cho cây lúa trổ bông

 

          Cũng không phải nhà nông

          Gắn bó với ruộng đồng

          Nuôi Tăng thân lớn mạnh

          Đi như một dòng sông

 

Từ niềm cảm xúc đó nên khi bưng bát cơm ăn trong ngày tu quán niệm, con cảm thấy vô cùng biết ơn quý thầy quý sư cô.

Nhớ ơn

(Hạt cơm của Bụt)

         

          Tay bưng bát cơm đầy

          Nhớ ơn thầy lao tác

          Để được ngồi trong mát

          Ăn từng hạt dẻo thơm

          Tay bưng bát cơm đầy

          Em có thấy gì không?

          Em thấy hình của Bụt

          Thắp sáng lòng từ tâm

 

Những cử chỉ dịu dàng, những lời nói ái ngữ, những bữa ăn chánh niệm và bình đẳng đã hấp dẫn đối với con. Ngoài ngày tu quán niệm con vẫn thích lên chùa để gặp quý thầy, quý sư cô. Thỉnh thoảng con hay cúng dường món chè, nấu tại chùa với một cái nồi to tướng, sở trường của con là món lục tào xá, vì một lẽ là món chè này rất bổ. Con có nói với thầy Minh Hy, con hay nấu chè chắc có ngày quý thầy đặt tên con là “cô chè”. Lúc đầu vào bếp, con thấy mọi người chào nhau xong rồi ai lo việc nấy, chẳng nói năng chi, con tự nghĩ thân tình nhưng sau mới hiểu là nhất cử nhất động cũng trong chánh niệm. Tuy việc nhiều nhưng khi nghe chuông mọi người vẫn dừng lại thở. Vài lần con thấy quen và thấy cần thiết phải làm việc trong chánh niệm. Làm nhưng ít nói và cười rất dễ thương.

Khi đọc sách thầy con đã vỡ ra mọi lẽ và ngộ được nhiều điều  mà trước đây khi đọc kinh sách con vẫn thường có những thắc mắc. Con đã ân hận sau khi đọc xong cuốn Am mây ngũ của  Thầy bởi lẽ qua bề dày của lịch sử, người ta đã hư cấu hoặc để thi vị hóa một cuộc tình hoặc vì ác ý nào đó, khi biết bà Huyền Trân Công Chúa đi tu với pháp danh Hương Tràng và Trần Khắc Chung là một lão tướng có công với nhà Trần. Con đã xúc động khi đọc cuốn sách đó.

Con thật lòng sám hối vì nếu không đọc sách Thầy thì những hư cấu vẫn còn nằm sâu trong tiềm thức của con. Sách Thầy không dạy những điều gì cao siêu, kỳ vĩ, chỉ nói những điều rất đơn giản là tập buông bỏ, chánh niệm, thở và cười, nhưng thực tập không dễ chút nào. Dễ như khi nói diệt được “tham, sân, si” thì sẽ “thành Phật”, nhưng mấy ai làm được điều này.

Rồi cơ duyên đến với con, năm 2006 con đã bỏ ăn mặn và ăn chay trường một cách nhẹ nhàng không luyến tiếc. Khi thân cảm thấy nhẹ và tâm trở về với thân thì mọi gánh nặng, vươn vấn, lo âu, sợ hãi, đã theo ngày tháng mà vơi đi, nhường chỗ cho sự an lạc, thảnh thơi.

Con cũng là người may mắn được Thầy truyền cho năng lượng an lạc trong những lần gặp Thầy. Năm 2007 Thầy về Việt Nam và Huế. Hôm đi đón Thầy, con bận phụ bếp không đi được, vì con lo bữa thọ trai cho Tăng thân. Ai cũng muốn đi đón Thầy, lòng con cũng muốn lắm nhưng nếu đi hết thì ai lo đây, trong bếp chỉ có bốn người. Con trấn an người chị đồng tu với con: “Rồi thế nào mình cũng sẽ gặp Sư Ông, nếu đi hết thì ai lo bếp núc đây”. Hình như long thần hộ pháp cũng bù trừ cho con được gặp riêng Thầy trong những phút cuối hôm Thầy rời Tổ Đình. Sáng hôm đó trời mưa lất phất, sương mù, con ở nhà một mình (nhà con đi Mỹ) nên con cũng không có ý định tiễn Thầy. Mới 5 giờ sáng con nghe tiếng điện thoại của chị bạn đồng tu gọi có đi tiễn Sư Ông không? Con nêu lý do và trả lời chắc em không đi được vì sớm quá. Nhưng khi gác điện thoại thì con chợt nghĩ đây là một sự đánh thức nên con quyết định đi tiễn Thầy. Vội vàng đi, nhưng ngoài đường chưa có người và phương tiện đi lại. Thế là có một em công nhân tình nguyện làm xe thồ để đưa con đến chùa. Vì sợ trễ giờ đi làm việc, nên con chỉ dẫn cho em đi đường tắt từ Diệu Nghiêm sang Tổ Đình. Chính nhờ đi đường tắt này mà con đã có diễm phúc gặp riêng Thầy. Lúc đến chùa con tưởng là con con đi trễ vì thấy sân chùa rất vắng. Con đang đứng dưới cây me trước mặt thư quán, thì thấy từ xa trong sương mù, từ phía thiền đường tiến đến sân chùa một vị tăng trong bộ đồ nâu, đội nón và đi theo sau chừng một bước. Vì sương mù và mưa lất phất nên lúc đầu con chưa nhìn rõ Thầy, nhưng trước mặt con là một bức tranh thủy mặc rất tuyệt vời và sinh động, có hình dáng Thầy và thị giả (như một tiểu đồng). Con mừng rỡ vô cùng vì lúc này chỉ một mình con được gặp riêng Thầy. Con tiến gần đảnh lễ nhưng con biết Thầy có vẻ ngại ngùng nên con vội vàng giới thiệu nhân thân và Thầy đã cười nói những từ Huế rặc rất nhẹ “té…rứa…ờ!”

Con đã sống một mình với niềm an lạc và hạnh phúc này trong suốt mấy tháng trời giữa mùa đông trong ngôi nhà bên cạnh sông Thọ Lộc, nhiều đêm gió rít từng hồi. Năng lượng an lạc của Thầy quá lớn! Con cảm thấy lòng dạ vui vẻ và hạnh phúc.

Thỉnh thoảng con lên thăm chùa Diệu Nghiêm. Lúc này các sư cô Bát Nhã (trước sự cố Bát Nhã) đang ở đây. Một hôm sư cô Diệu Thuận nói với con: “Không biết Sư Ông dạy các em (sư cô Bát Nhã) răng mà các em qua dễ thương, săn sóc hầu hạ Sư Bà suốt đêm rồi chăm sóc cho sư cô Diệu Thiện té gãy xương đùi, bưng lên bợ xuống rồi lo vấn đề vệ sinh mà lúc nào cũng nhẹ nhàng nói năng nhỏ nhẹ và luôn tươi cười. Con đã thưa với sư cô là Sư Ông con dạy: “Sáng cho người niềm vui, chiều giúp người bớt khổ; đi đứng nằm ngồi trong chánh niệm, vào ra cười nói tướng đoan nghiêm. Thở và cười”. Dạ chừng nớ mà thực tập cho tốt thì thành con người như rứa đó. Nhưng rồi cũng hết cơ duyên nên sau khi Sư Ông đi rồi chừng ba bốn tháng sau thì các sư cô phải rời khỏi Diệu Nghiêm để về chùa Tây Linh dưới sự dang tay rộng mở của Sư Trưởng Tây Linh. Chùa Tây Linh vốn là chỗ thấp lụt nên mỗi năm phải đón nhận chừng vài ba cái lụt của xứ Huế khắc nghiệt. Từ Bát Nhã thuộc miền cao nguyên đến Diệu Nghiêm là đồi núi nên khi lụt đến Tây Linh các sư cô cũng rất ngỡ ngàng. Trong một buổi thiền trà sau lụt, Thầy Từ Hải mời sư cô Tuyền Nghiêm thường gọi là sư út (vì xuất gia năm 15 tuổi và năm ấy mới chỉ độ trăng tròn) chia sẻ cảm tưởng chuyện lụt ở chùa Tây Linh. Vì còn non dại, ít khi nói trước đại chúng nên ngượng ngùng, diễn đạt còn lúng túng. Nhưng khi thầy bảo hát một bài thì cô đã chọn bài Để gió cuốn đi của Trịnh Công Sơn và hát đoạn đầu của bài hát. Mọi người đều cười, riêng con thì xúc động vô cùng, thấy được cái tâm từ bi của một người trẻ chưa đến tuổi trưởng thành.

Một sự tình cờ con đã chứng kiến những gì xảy ra ở chùa Diệu Nghiêm, con ghi lại đây với tất cả lòng thương mến đối với các sư cô Bát Nhã. Rồi đến vụ bạo hành và trục xuất Tăng thân ra khỏi Tu viện Bát Nhá con lại càng khâm phục hơn nữa. Đuốc sáng của tuệ giác và lòng từ bi đã giúp cho những hạt bồ đề dù gieo ở đâu cũng nảy mầm và lớn lên một cách tốt đẹp, vững chãi.

Năm 2010 con đã gặp lại Thầy và Tăng thân trên đất Thái Lan. Quả đất vẫn luôn tròn, niềm vui không sao kể xiết. Dù ở tuổi 66, hằng tuần con vẫn lên chùa Tổ để tu quán niệm như trở về với ngôi nhà tâm linh, ngồi trong Thiền đường Trăng Rằm để nghe pháp thoại, đi thiền hành, ăn cơm trong chánh niệm cùng quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chũng. Lòng con cảm thấy an lạc và hạnh phúc vô cùng.

Con viết bài này như một lời tri ân gởi đến Thầy và Tăng thân đã soi sáng, dìu dắt và nâng đỡ con trên con đường thực tập, giúp con có niềm an lạc trong chặng cuối của cuộc đời. Con cũng sẽ dìu dắt con và cháu của con để tìm hạnh phúc và an lạc qua pháp môn của Thầy.

                                                                                      

 

 
 
Các bài Phóng sự - Bút ký khác
Các bài Phóng sự - Bút ký