RÚT LUI VỚI NHỮNG CHUYỆN ĐAU LÒNG
Sau một tuần làm chủ Thành phố Huế, chúng tôi vẫn còn nghĩ đã có một sự thỏa thuận nào đó giữa Mặt trận Giải phóng và Hoa Kỳ về chiến tranh Việt Nam, Huế đã thuộc về chúng tôi. Khẩu hiệu “Không được đụng đến cây kim sợi chỉ của dân” vẫn được tôn trọng.

(Trích Chương Mười Một, Nguyễn Đắc Xuân từ Phú Xuân đến Huế - Tự truyện Tập III, nxb Trẻ 2012, tr.151-168)

Sau một tuần làm chủ Thành phố Huế, chúng tôi vẫn còn nghĩ đã có một sự thỏa thuận nào đó giữa Mặt trận Giải phóng và Hoa Kỳ về chiến tranh Việt Nam, Huế đã thuộc về chúng tôi. Khẩu hiệu “Không được đụng đến cây kim sợi chỉ của dân” vẫn được tôn trọng. Ngay cả tài sản trong các công sở của chính quyền Thừa Thiên Huế vẫn được giữ gìn nguyên vẹn. “Vì đó sẽ là tài sản của Cách mạng mà!” Nhưng hằng đêm theo dõi đài BBC, đài VOA tôi không nghe có động tĩnh gì về chuyện thương thuyết cả, ngược lại toàn nghe chuyện Mỹ chuẩn bị phản kích mạnh mà thôi. Quyết tâm của Mỹ đã được thực hiện và nhà sử học Phạm Văn Sơn của quân đội VNCH đã ghi lại ngay sau đó trong sách L’Offensive Générale Des Việt Cộng Au Tet Mau Than 1968 (Cuộc Tổng Công Kích Của Việt Cộng Tết Mậu Thân 1968) như sau:

Mở đầu trận đánh vào Thành Nội, lực lượng Liên quân Việt-Mỹ đã quyết tâm thanh toán địch bằng mọi giá. Các khu trục cơ của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ từng đợt một đã đến oanh tạc vào Thành Nội Huế trong 2 ngày liên tiếp. Hôm 14 tháng 2, lần đầu tiên trong trận đánh 16 ngày tại Huế, phi cơ đã ném bom vào những bức tường kiên cố. Các loại bom được dùng là bom Napalm, hoả tiễn 6.8 và bom hơi cay thả vào các vị trí Việt Cộng cùng bức tường đá dày 2 mét. Nhưng qua hôm 15 tháng 2/1968 các phi cơ đã thả các loại bom 250, 500 và 750 cân Anh” (tr.345).

H.1. Không lực Hoa Kỳ dội bom lửa phá huỷ Kinh thành Huế. Ảnh trích lại của Ann Helen Unger-Walter Unger Hué Cité Imperial du Vietnam, Édition Abbeville 1995.

Chính tai tôi nghe đài VOA thông tin Tổng thống Johnson hạ lệnh cho quân đội Hoa Kỳ phá hủy Kinh thành Huế để “tiêu diệt Việt Cộng rồi sau nầy Hoa Kỳ sẽ viện trợ tái thiết lại”. Cũng qua đài địch, chúng tôi được biết các chiến trường ở phía nam đã rút hết, Mỹ và quân đội Sài Gòn tập trung lực lượng về chiến trường Huế. Trong lúc đó, chiến sự kéo dài, các lực lượng cách mạng không được tiếp tế đầy đủ, thiếu gạo, thiếu thuốc men, đạn dược. Nhiều bộ đội chống tăng đến quan hệ công tác với chúng tôi, tôi biết nhiều khẩu B40, B41 chỉ còn vài viên đạn. 

Hy sinh cầu Trường Tiền 

Trước khi xuất quân rời Trường Sơn, chúng tôi đã được lệnh không được đụng đến cây kim sợi chỉ của dân và, với bất cứ giá nào cũng không được giật sập cầu Trường Tiền. Nhưng đến khuya ngày 7-2-1968, tôi được tin Mặt trận quyết định hy sinh cầu Trường Tiền để ngăn chặn lực lượng xe tăng thiết giáp của quân đội Mỹ bên bờ nam hướng qua bờ bắc sông Hương. Nếu để cầu Trường Tiền thì không thể giữ được Mặt trận Cánh Bắc.

H.2. Ngày 7-2-1968, hy sinh cầu Trường Tiền dể giữ Mặt trận Cánh Bắc. Không ảnh thu từ internet.

Tôi biết đạn chống tăng của bộ đội đã cạn, xe tăng thiết giáp của Mỹ qua đến bắc sông Hương thì chuyện chúng tôi phải kéo nhau rút lui lên rừng là cái chắc. Vì thế nghe tin đó anh em chúng tôi dù nước mắt chảy dài mà vẫn không dám hé răng phản đối. Một lúc sau, một tiếng nổ long trời làm cho tất cả chúng tôi bật khóc. Riêng anh em cán bộ, bộ đội quê ở miền Bắc thì hơi thản nhiên. Bởi vì họ chưa có gắn bó gì nhiều với cầu Trường Tiền và chuyện sập một cây cầu đối với họ không có gì lạ cả vì từ năm 1966 đên 1968 biết bao cây cầu lớn nhỏ ở miền Bắc đã bị máy bay Mỹ thả bom tiêu tan hết. Có muốn khóc cũng không còn nước mắt để khóc. Giật sập cầu Trường Tiền là một mất mát lớn trong tình cảm chúng tôi. Đầu năm 1969, tôi cùng các anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Hữu Vấn, Lê Phương Thảo được Cục Chính trị Khu ủy Trị Thiên (đóng gần biên giới nước bạn Lào) nuôi ăn để viết sách, một buổi tối mở Đài Phát thanh Tự Do bất ngờ tôi nghe được bài hát Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy của Trầm Tử Thiêng. Giai điệu của bài hát rất ngọt ngào, thu hút ngay sự chú ý của tôi. Nội dung bài hát tố cáo quân đội Giải phóng đã phá sập cầu Trường Tiền và tác giả hy vọng sẽ trả thù thủ phạm đã giật sập cầu. Qua cái máy bán dẫn tôi chỉ nghe qua được một lần nên rất tiếc. Nghe một bài nhạc mới tôi thường bị thu hút bởi giai điệu của nó, sau đó mới quan tâm đến lời nhạc. Suốt năm 1968, chúng tôi đã quá quen chuyện chống Cộng của các đài phát thanh của VNCH và Hoa Kỳ nên không ngạc nhiên lời bài hát của Trầm Tử Thiêng. Sau ngày thống nhất đất nước, tôi có dịp nghiên cứu và viết lịch sử cầu Trường Tiền, một anh bạn giáo viên Anh văn cũng có sáng tác nhạc ở Đà Nẵng đã hát cho tôi nghe Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy của Trầm Tử Thiêng. Tôi thật sự xúc động vì được nghe một bài hát mình thích mà chỉ mới được nghe thoáng qua một lần hồi còn ở Trường Sơn. Tôi chỉ tiếc Trầm Tử Thiêng liệt quân đội Giải phóng là “giặc” đã phá cầu Trường Tiền mà không nói gì đến quân đội Mỹ thả bom phá hủy gần 90% thành phố Huế cả. 

Tình người về giữa đêm xuân chưa dứt cuộc vui 

Giặc đã qua đây gây cảnh nổi trôi. 

Cầu thân ái đêm nay gẫy một nhịp rồi

Tôi tâm sự với anh bạn: nếu Trầm Tử Thiêng đứng ở vị thế là một người phản chiến như Trịnh Công Sơn thì bài Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy sẽ quý hơn nhiều. Anh bạn bảo tôi hãy thông cảm cho tác giả vì lúc ấy Trầm Tử Thiêng phục vụ tại Cục Tâm Lý Chiến thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị của quân đội VNCH [1].

H.3. Tâm sự chiếc cầu gãy. Ảnh TL internet

Tiếc cho một người tài mà đứng sai chỗ trong lịch sử nên cái tài dễ biến thành cái “tai”. Tuy nhiên, dù Trầm Tử Thiên chống quân đội Giải phóng, liệt tôi vào hàng ngũ “địch” nhưng tôi vẫn đặt bài Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy là một bài nhạc hay trong kho tàng âm nhạc của Huế tôi. Những người đánh sập cầu Trường Tiền để ngăn bước tiến phản kích của quân đội Mỹ năm 1968 đã dựng lại cầu Trường Tiền (1990) và dùng hình ảnh cầu Trường Tiền làm biểu tượng của cái đẹp xứ Huế ra quốc tế. Bài hát Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy là một kỷ niệm sâu sắc nhắc nhở người yêu Huế đừng bao giờ để chiến tranh tái diễn trên mảnh đất Cố đô đâu thương nầy nữa. 

*
*      *

Đốt lửa đón máy bay

Một đêm tôi nhận được lệnh của ông Trần Anh Liên-Chính ủy Cánh Bắc, điều động Đội Công tác Thanh niên chúng tôi đi đốt lửa trước cửa Ngọ Môn làm dấu hiệu để máy bay ngoài Bắc vào thả dù lương thực và đạn dược cho chiến trường Huế. Đang thiếu gạo, thiếu đạn dược, nghe có máy bay vào tiếp tế thì mừng vô cùng chứ chưa kịp nghĩ chuyện đó có thực hiện được hay không trong bầu trời do quân đội Hoa Kỳ làm chủ và hậu quả về chính trị “Máy bay miền Bắc vào đánh ở miền Nam” sẽ phải giải thích với dư luận thế giới ra sao. Chúng tôi lao đi tìm chất đốt. Nhưng xăng dầu dĩ nhiên làm sao có được trong hoành cảnh đó. Củi khô, củi tươi cũng không tìm đâu ra. Chúng tôi chỉ còn một cách duy nhất là tháo các lốp xe hơi đang đậu trên địa bàn chúng tôi. 

Chúng tôi đốt ba đêm, khói đen bay lên nghi ngút nhưng chẳng thấy máy bay máy bò nào đến cả. Hậu quả là những đống lửa chúng tôi đốt giữa sân Ngọ Môn đã trở thành các mục tiêu cho pháo tàu của Mỹ. 

Thế nhưng gần 35 năm sau sự kiện ấy, một độc giả ở Hà Nội vào cuối năm 2002 gởi cho tôi một lá thư kèm theo một bài báo mang tựa đề “Chiến công trên bầu trời thành Huế” của tác giả Bùi Đình Nguyên đăng trên báo Hà Nội Mới trong dịp kỷ niệm 30 năm Tết Mậu thân. Trong thư, độc giả nhờ tôi trả lời câu hỏi: “Trong cuộc tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, có chuyện không quân ta ném bom vào căn cứ quân sự Mang Cá của địch ở Huế như bài báo viết không?” Tôi hết sức ngạc nhiên và cảm thấy đây là một vấn đề quan trọng nên thay vì viết thư trả lời riêng cho độc giả tôi đã viết một bài đính chính khẳng định “không có sự kiện máy bay miền Bắc tập kích khu Mang Cá trong tết Mậu thân” như Bùi Đình Nguyên đã viết trên Hà Nội Mới. Bài viết mang tựa đề: “Về sự kiện không quân ta ném bom vào căn cứ Mang Cá ở Huế trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968” và được tạp chí Lịch sử Quân sự Việt Nam thẩm tra tư liệu ở Bộ quốc phòng và đăng ngay vào số 1 (139) tháng 1&2 - 2002 (tr.69-71). Sau đó được đăng lại trên tạp chí Huế Xưa và Nay, số 55 (1-2/2003), (tr.30-34) với tựa đề “Trong Tổng Tấn Công Và Nổi Dậy Xuân 1968, Có Chuyện Không Quân Ta Thả Bom Vào Căn Cứ Quân Sự Mang Cá Của Địch Ở Huế Không?” Sự thực theo kế hoạch, Trung ương có đề ra việc dùng không quân tiếp tế cho Huế và bất ngờ đánh vào Mang Cá nhưng không thực hiện được. 

*
*     *

Tổn thất đầu tiên làm cho tôi bàng hoàng nhất là chuyện vì cái tính mạo hiểm mà Nguyễn Thiết (tức Hoàng Dung) đã hy sinh một cách oan uổng. Sáng hôm ấy Nguyễn Thiết cùng với Lê Hữu Dũng từ Thành nội vác loa ra thông tin chiến thắng trên các mặt trận với dân chúng Khu phố hai (tức P. Phú Hòa ngày nay). Ra phố anh không dùng đường ra cửa Đông Ba hay cửa Thượng Tứ mà đi tắt bằng cách leo qua tường thành với một chiếc than dây. Bộ đội chốt ở cửa Đông Ba tưởng địch trốn ra khỏi Thành nội nên nổ súng, Nguyễn Thiết trúng đạn rớt tỏm xuống nước Hộ thành hào. Lê Hữu Dũng sợ quá quay lui về báo cho chúng tôi. Chúng tôi phải chạy tìm thông báo với Ban Chỉ huy K2 - đơn vị bộ đội có trách nhiệm canh giữ khu vực nầy mất một buổi rồi mới dám dò dẫm ra tìm xác Nguyễn Thiết. Nhưng rồi rất tiếc không tìm thấy đâu cả. Mấy mươi năm qua mỗi lần vô ra Thành Nội bằng cửa Đông Ba hay cửa Thượng Tứ, đặc biệt là những ngày sau tết, tôi không thể không nhớ Nguyễn Thiết. Trong số anh em Phong trào đô thị gặp tôi trong kháng chiến, Nguyễn Thiết là người có nhiều gắn bó với tôi nhất. Thiết là một trong những sinh viên Phật tử đầu tiên chống chế độ Ngô Đình Diệm với tôi, cùng bị tù năm 1963, rồi cùng bị bắt và bị tù ở Sài Gòn năm 1964. Năm 1965 Thiết thoát ly. Anh được Thành ủy phân công phụ trách Thanh niên Thành phố. 

Năm 1967 anh họạt động ở đồng bằng, rất dũng cảm. Anh bị thương nhiều lần, có lần ruột anh bị đứt nhiều đoạn, nối ruột lại xong anh lại đi họat động. Anh thường đi công tác một mình. Nhiều khi anh phải lội qua những cánh đồng nước lụt mênh mông, trên đầu máy bay địch quần đảo tìm bắt anh, sự sống cận kề cái chết nhưng vẫn lạc quan gùi thuốc rượu lên chiến khu cho bạn bè. Nguyễn Thiết thích mạo hiểm cho nên anh đã lấy bí danh Hoàng Dung. Hoàng Dung là tên một nhân vật trong tiểu thuyết Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung. Hoàng Dung thông minh, nhanh trí, nhiều mưu kế, võ nghệ cao cường, thường làm việc theo ý mình. Nguyễn Thiết nghĩ mình cũng thế: chiến đấu theo ý mình. Vì thế anh đã mất trong một hoàn cảnh chiến tranh không theo ý anh. So với anh chị em xuất thân trong các Phong trào đấu tranh đô thị ở Huế đi kháng chiến, Nguyễn Thiết là người anh hùng nhất [2]. Rất tiếc cái chết của anh trong hoàn cảnh như thế nên tên tuổi của anh chỉ còn lưu lại trong lòng bạn bè lứa tuổi anh và một tấm bằng liệt sĩ như nhiều liệt sĩ khác mà thôi. Đáng lẽ anh phải được hơn thế. Thật tiếc. 

*
*     *

Trở lại chuyện hoạt động trong hoàn cảnh bị phản kích dữ dội trong tết Mậu thân. Làm chủ Huế được khoảng trên dưới mười ngày, bộ đội, cán bộ, dân chúng trên địa bàn chết nhiều. Đội công tác thanh niên chúng tôi hằng ngày chỉ còn lo xin lương thực ăn để làm nhiệm vụ đào hố dọc bờ thành đường Nguyễn Thành từ cửa Đông Ba đến cửa Thượng Tứ chôn người chết. Nhiều đồng đội của tôi đào hố chưa kịp chôn người chết thì các bạn đã nằm lại ngay tại cái hố do chính các bạn vừa đào. Và tôi cũng nghĩ rồi có thể sẽ đến phiên tôi. Bom đạn không biết tránh ai cả. Để động viên nhau chúng tôi thường bảo nhau: 

-“Bom đạn Mỹ thả xuống chưa chắc đã trúng mình. Trúng chưa chắc đã chết. Còn sống thì cứ công tác. Chết coi như hoàn thành nhiệm vụ.” 

Suốt ngày phải lo tránh bom đạn căng thẳng, đói, buồn ngủ không chịu được. Nhưng không nỡ để người chết bị bom đạn hủy hoại thêm một lần nữa nên chúng tôi vẫn phải tranh thủ những khi bầu trời tắt ánh sáng hỏa châu liền liều mạng nhảy ra khỏi các miệng hầm trú ẩn đi đào hố chôn tử sĩ. Vì thế có nhiều hố chúng tôi phải dập hai ba người. Cũng có nhiều hố mới dập xuống chưa lấp kín đất đã bị pháo tàu của Mỹ vút tới xới lên. 

Một buổi tối, chúng tôi đang đào hố dọc bờ thành cuối đường Ngô Đức Kế và Tống Duy Tân thì hỏa châu mở toang bầu trời đêm sáng lên như ban ngày. Tôi thoáng thấy một người đàn ông thấp, lưng hơi khom khom mặc đồ ngủ bị trói giật cánh khuỷu ra sau lưng lững thững bước đi giữa mấy đồng chí an ninh vũ trang. Người tù binh có mái tóc muối tiêu dài vuốt ngược ra sau hơi quen quen khiến tôi bỏ cuốc xẻng chạy đón đầu mấy đồng chí giải tù binh, một loạt hỏa châu khác lụp bụp nổ tóe sáng, tôi nhận diện đựợc người tù binh ấy là bác Lê Quang - một nhiếp ảnh gia có nhà ở đường Trần Hưng Đạo, một người đã bao năm xả thân tranh đấu chống Mỹ với chúng tôi trên đường phố Huế, chúng tôi có được những bức ảnh dân chúng Huế bị Mỹ ngụy đàn áp dã man từ 1963 đên 1966 phần lớn đều do ống kính của bác Lê Quang cả. May mắn sao tôi gặp được người an ninh vũ trang đi sau cùng là Thiếu tá Hải - người xứ Nghệ từng quen biết tôi mấy năm đi công tác ở Trường Sơn, tôi hỏi:

- “Ông Lê Quang bị bắt vì tội gì vậy ?”

- “Cơ sở báo mấy hôm nay chính ông nầy chỉ điểm cho địch biết đích xác chỗ đóng quân của ta nên địch tập trung bắn pháo giả nát cả vùng dân cư nầy đây!”
Tôi không tin một người hiền lành có quá trình tranh đấu chống Mỹ ngụy như bác Lê Quang lại đi làm cái việc ác nghiệt đó, và bác có muốn cũng không có phương tiện trong hoàn cảnh nầy để làm việc đó được. Tôi hỏi:

-“Cơ sở báo như thế nào anh Hải ?”

-“Họ báo chính ông chủ ngôi nhà ở góc đường Ngô Đức Kế với...”

Tôi hoảng hốt kêu lên:

-“Thôi sai rồi, ông ấy là người từng tranh đấu chống Mỹ Ngụy với tôi, nhà ông ở ngoài đường Trần Hưng Đạo, có lẽ nhà ông bị tàu Mỹ trên sông Hương và xe tăng Ontos của Mỹ ghép 6 nòng đại bác không giật bắn sập nên ông chạy vào núp ở đây, chớ ông làm gì có nhà ở đây mà làm chủ?”

-“Thật không?”

-“Không thật thì làm sao tôi dám chạy theo anh mà... Nếu sai tôi chịu trách nhiệm.

Xin thả ông về ngay!” 

Đến phiên Thiếu tá Hải kêu lên:

-“Cám ơn đồng chí. May không thôi!...”

Bác Lê Quang thoát chết. Và có lẽ bác cũng không biết bác đã bị bắt vì tội gì và vì sao bác được thả về. Không rõ nay ở chín suối bác có biết năm Mậu thân 1968 mạng sống của bác đã từng được treo bằng một sợi tóc như thế không?

H.4. Xe tăng Ontos của Mỹ ghép 6 nòng đại bác không giật, bắn phá tan nát phố Trần Hưng Đạo, trong đó có nhà ông Lê Quang.  

Trong chiến tranh nhân dân, tai mắt của nhân dân giữ vai trò rất quan trọng. Nhưng xử lý thông tin tình báo do nhân dân cung cấp phải hết sức thận trọng. Nếu thiếu hiểu biết về địa phương thì không thể đánh giá thông tin nhân dân cung cấp chính xác được. Mà sử dụng thông tin tình báo thiếu chính xác thì không thể tránh được hậu quả nghiêm trọng. Cũng chính trong khu vực nầy, đội công tác thanh niên của tôi suýt gây một sai lầm không thể sửa chữa được. 

Khoảng sau ngày 10 tháng 2-1968, khu vực dân cư giới hạn bởi cửa Thượng tứ - Tam tòa - góc thành Ông Ích Khiêm và Nguyễn Thành (nay là đường 68) bị bom pháo san bình địa. Đây đó còn sót lại vài đống lửa bốc khói trắng và dăm cái miệng hầm trú ẩn trơ trọi. Một sáng tinh mơ tiểu đội thanh niên đi tuần tra qua đó thấy từ dưới một cái miệng hầm nhô lên một cái cần ăng-ten sáng loáng. Giữa cõi chết nầy sao lại có một chuyện lạ như vậy? Thanh niên liền áp tới thì thấy một người đàn ông ăn mặc tử tế, ngồi trước cái radio Sony đang mở kêu rè rè, một tay ông ta cầm bút bi mực đỏ, một tay cầm tờ giấy ghi chi chít những cụm bốn chữ số. Ví dụ như 3289 7623 2198 3403,.v.v. Đội thanh niên nghĩ rằng chỉ có địch giờ nầy mới dám đến đây và có lẽ đang liên lạc với cấp trên của y. Người ấy liền bị thanh niên bắt. Anh ta khai tên là Phương và không tỏ ra sợ hãi gì cả. Anh bảo với anh em đội viên thanh niên:

-“Các anh không được động chạm đến người tôi, hãy cho tôi gặp người chỉ huy cao nhất của các anh!”. 

Anh em thanh niên thật thà hỏi:

-“Ông có biết anh Nguyễn Đắc Xuân và anh Trần Thân Mỹ không? Những người chỉ huy cao nhất của chúng tôi đó!”

Người bị bắt lưỡng lự trả lời:

-“Không biết”.

-“Chúng tôi chỉ biết hai ông ấy!” 

-“ Vậy cho tôi gặp các ông ấy cũng được!”

Anh em thanh niên lục soát trong người bị bắt không thấy có gì khả nghi ngoài chiếc đài bán dẫn và từ giấy ghi chi chít những số và số. Đội thanh niên áp tải ông ta vào trường Âm nhạc trong Đại nội - nơi chúng tôi vừa chuyển vào. Ông ta lại yêu cầu tôi cho ông ta gặp cấp trên giống như ông đã nói với các đội viên thanh niên vừa bắt ông. Tôi đưa ông vào ngồi dưới gầm cái sân khấu giữa trường Âm nhạc - nơi an toàn nhất lúc ấy. Sau đó tôi liên lạc được với Ban chỉ huy Cánh Bắc đang đóng trong Cung Diên Thọ và giao ông cho Chánh ủy Trần Anh Liên. Rồi từ đó chúng tôi không còn quan tâm đến chuyện ấy nữa. 

Khoảng nửa tháng sau rút lên Trường Sơn, một hôm ngồi nghỉ bên suối tôi thấy trong đoàn cán bộ quân sự được bộ đội bảo vệ đi qua, có một người quen quen vừa đi vừa nói chuyện rất tự nhiên với những cán bộ chủ chốt đi trong đoàn. Nhìn kỹ tôi liền sực nhớ đến người đàn ông bị thanh niên bắt trong Thành Nội. Tôi chạy theo đoàn cán bộ và bắt tay ông. Người đàn ông nhận ra tôi mừng rỡ bắt tay tôi và nói với các cán bộ đi trong đoàn:

-“Hôm ấy may nhờ gặp thanh niên của đồng chí nầy tôi mới gặp được Ban Chỉ huy, nếu gặp người khác chắc nguy rồi !”

Nghe người ấy nói tôi sợ đến ù cả tai. May không thôi Đội thanh niên chúng tôi đã phạm tội với đồng chí của mình rồi.

Sau tôi được biết cụ thể hôm ấy ông Phương đích thân ra chiến trường nhận lịnh của Trung ương qua mật mã truyền bằng sóng phát thanh và kịp thời báo cho các các lực lượng quần chúng rút dần ra vùng ven, còn các đơn vị chủ lực ở lại chuẩn bị chiến đấu chống phản kích của Mỹ vào Thành Nội. 

Nghe tôi kể lại chuyện rợn tóc gáy nầy, nhiều người tham dự chiến dịch Huế Xuân 1968 kể cho biết nhiều cơ sở bí mật trong nội thành của ta bị tố oan. Khi bị giết họ hô ba lần khẩu hiệu Hồ Chí Minh! Hồ Chí Minh! Hồ Chí Minh muôn năm! Chính ông Nguyễn Đình Khiêm (thường gọi Bảy Khiêm) có lần đã cho tôi biết: Ông Hoàng Trọng Bá - một tỉnh ủy viên ở Quảng Bình mình đã được tình báo Cách mạng cài vào bên cạnh Ngô Đình Cẩn. Sau 1-11-1963, nhà Ngô bị đảo chánh, Ngô Đình Cẩn bị bắt và bị xử tử, ông Hoàng Trọng Bá bị tù ở lao Thừa Phủ. Tháng 2-1968 Giải phóng mở cửa nhà lao và cứ nghĩ Hoàng Trong Bá là địch tay chân của nhà Ngô nên anh em vừa ra khỏi tù đem Hoàng Trong Bá ra giết quách. Một tổn thất vô cùng to lớn khó lòng tạo lại được. 

Tôi là một quần chúng, họạt động mang tính cách dân vận trong một khu vực rất hẹp mà đã gặp biết bao chuyện đau lòng do chiến tranh gây ra rồi. Tuy không có quyền hành gì nhưng có được một chút uy tín với dân, với Cách mạng nên tôi đã cứu đựợc một số mạng người. Cũng có một số người khác sống sót nhờ quen tôi hoặc do tôi chỉ cho họ cách trú ẩn hoặc cách thoát khỏi các vùng nguy hiểm mà nay tôi không còn nhớ cụ thể. Trong cái tết đầu tiên sau 30-4-1975, thầy giáo dạy Anh văn Phan Văn Chạy tha thiết mời tôi đi dự một bữa tiệc của một người mà tôi không hề quen biết. Tôi rất ngại nhưng thầy Chạy quá tha thiết nên tôi phải nhận lời. Đến lúc khai tiệc (hình như ở Quán Ông Táo trong Thành Nội), ông chủ bữa tiệc là một trung niên đứng lên tuyên bố:

-“Thưa các anh chị, thưa bà con, hôm nay tôi rất hân hạnh được mời quý anh chị đến dự bữa tiệc kỵ tôi”. 

-“Sao lại kỵ anh?”- Tôi hết sức thắc mắc.

Người chủ giải thích:

-“Hồi tết Mậu thân, tôi bị giữ lại ở đường Mai Thúc Loan, may gặp anh Xuân xin cho tôi chạy ra cửa Đông Ba để qua khu Gia Hội, ngay sau đó ngôi nhà - nơi tôi bị giữ lại bị bom Mỹ dội sập, bộ đội trú ẩn trong đó chết hết. Tôi sống đây là đời sống thứ hai. Hôm nay là ngày kỵ đời sống thứ nhất của tôi!”

Thật tình tôi không nhớ người chủ bữa tiệc hôm ấy, nhưng những chuyện như người chủ kể là chuyện nhỏ, nhiều lắm, làm sao nhớ được. Và, từ sau bữa tiệc ấy tôi cũng không biết người ấy tên gì, và đến nay sau hơn ba mươi năm anh ấy còn hay mất, hay đang định cư ở nước ngoài? Chạy ơi có biết người ấy bây giờ ở đâu không?

Chuyện tết Mậu thân đã xảy ra trên bốn mươi năm. Những chuyện chúng tôi làm được và giúp dân chỉ có những người trong cuộc mới hy vọng còn nhớ. Còn những chuyện sai lầm do thiếu thông tin, do bệnh ấu trĩ, hẹp hòi, giáo điều, sợ trách nhiệm gây ra trên toàn mặt trận thì vẫn còn đeo đẳng trong tâm trí nhiều người, nhất là những người Phật tử có một quá trình đấu tranh đô thị như tôi. Năm 1988, nhân kỷ niệm 20 năm chiến thắng tết Mậu Thân, tôi còn làm công tác tuyên huấn ở Thành ủy Huế, đã cùng với ông Nguyễn Huy Ngọc-Thường vụ Thành ủy thực hiện chủ trương của Thành ủy làm tập sách Huế Xuân 68. Ông Lê Tư Minh – Tư lịnh chiến dịch Huế Xuân 68 - người biết rõ và có thẩm quyền nhất về chiến dịch Huế Xuân 68 đã có ý kiến rằng: “…Rốt cuộc là đã có những người bị xử lý oan trong chiến tranh. Dù lý do thế nào thì trách nhiệm vẫn thuộc về lãnh đạo, trong đó có trách nhiệm của tôi. Nhiệm vụ bây giờ của cách mạng là phải minh oan cho gia đình, con cái của những người đã chết, trong hoàn cảnh như vậy, trong khi luật pháp cách mạng chưa hề có ý định xử họ vào tội chết; có một người phải minh oan cho một người, có một trăm người cũng phải minh oan cho một trăm người. Đó là lẽ phải và tình thương, quần chúng sẽ thông cảm và không bao giờ lẫn lộn đen trắng.” [3]

Sau đó không lâu ông Lê Tư Minh qua đời vì bệnh. Nhưng không hiểu sao mãi cho đến nay (2009) lãnh đạo Đảng và chính quyền các cấp vẫn chưa có kế hoạch thực hiện ý kiến đạo nghĩa nhân hậu của người đã làm nên lịch sử. Theo tôi đi kèm với “minh oan”, những người có trách nhiệm của chính quyền hiện nay phải “xin lỗi” dân về những sai lầm của mình thì mới yên lòng dân Huế được.

 


[1] Trầm Tử Thiêng tên thật Nguyễn Văn Lợi, sinh 01 - 10 - 1937 (tuổi Đinh Sửu) tại Đại Lộc, Quảng Nam.

[2] Nguyễn Thiết (1933-1968), quê làng Xuân Ổ, huyện Phú Vang; sau lấy trú quán ở Phường Vĩnh An, Thành Nội Huế (nay thuộc P. Thuận Lộc). Sinh năm 1933, lúc nhỏ tên là Sum, đi học lấy tên Nguyễn Thiết. Con ông Nguyễn Văn Thiện (Thợ May) và bà Võ Thị Yên (Nội trợ). Thiết là anh cả trong gia đình có 4 anh em: Nguyễn Thiết (1933); Nguyễn Thị Vầy (1936, hiện là bà chủ nhà may Tân Lập đường Trần Hưng Đạo, Huế); Nguyễn Vinh (1940, hiện ở Mỹ), Nguyễn Thị Lệ Khanh (1943). Học đến Trung học ở Huế. Cuối năm 1954 ra Bắc học trường Phổ thông cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng ở Bạch Ngọc Nghệ An; năm 1955 về lại Huế. Năm 1963 học Đại học Luật, tham gia Đoàn Sinh viên Phật tử Huế; đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm, 1964 tham gia đấu tranh chống chế độ quân phiệt Nguyễn Khánh, được cử vào Sài Gòn cùng Nguyễn Đắc Xuân tổ chức đấu tranh ở Sài Gòn; bị bắt, tuyệt thực trong tù cuối cùng được thả về Huế; năm 1965 thoát ly theo Cách mạng; năm 1966-1968 phụ trách thanh niên Thành ủy Huế; tháng 1-1968 Phụ trách chính quyền Khu phố 2 (P.Phú Hòa ngày nay) và hy sinh ở Huế. Chưa có vợ con. Thích đá bóng và ở trong đội bóng của Trường Luật. Công tác chiến đấu rất anh dũng, kiên cường, nhiều lần bị thương nặng nhưng không hề nao núng ý chí chiến đấu. Đã được công nhận là liệt sĩ cách mạng.

[3] Lê Minh, Huế Xuân 68 trong sách Huế Xuân 68, tái bản lần thứ nhất, Thành ủy Huế 2002, tr.76

 

 
 
Các bài Phóng sự - Bút ký khác