Vừa qua “Chín năm máu lửa” ở miền Trung
Những xác nhà bê-tông cốt sắt còn lưu lại cho đến ngày nay là chứng tích tội ác nhắc nhở con người rằng: Của phi nghĩa không bao giờ được kết thúc yên ổn cả.

Chiều 2-11-1963, các nhà giam Phật tử trên khắp Thành phố Huế mở cửa. Được tháo củi sổ lồng, chúng tôi vui sướng không thể nào tả được. Dân chúng Huế nhảy múa ngoài đường. Nhà nào cũng mở oang oang Radio nghe Nhật lệnh của Hội đồng Quân nhân Cách mạng rộn ràng trong tiếng nhạc quân hành. Tối đó các Đài Phát thanh BBC, VOA tường thuật tướng Dương Văn Minh cầm đầu “cuộc Cách mạng 1-11-1963” và cho biết anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm đã bị giết. Trước đó chúng tôi chỉ mong vợ chồng Cố vấn Ngô Đình Nhu-Trần Lệ Xuân ra đi và Tổng thống Diệm thay đổi chính sách kỳ thị Phật giáo. Thế thôi. Nay nghe cả ông Diệm và ông Nhu đều bị giết, một sự thực ngoài sức tưởng tượng của tôi. Chưa bao giờ người dân Huế thể hiện sự vui mừng nồng nhiệt đến thế.

Trong mắt quần chúng Huế, anh chị em sinh viên tranh đấu vừa ra khỏi các nhà tù của gia đình nhà họ Ngô như những người anh hùng. Các mẹ, các chị tiểu thương chợ Đông Ba, các nhà buôn dọc đường Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu đón tiếp chúng tôi, họ tặng quà bánh, vải may quần áo, và cả tiền tiêu. Dân chúng đến Trụ sở Tổng hội Sinh viên trong khuôn viên Đại học (Morin cũ), chùa Từ Đàm tìm hỏi người thân.

Từ khi thông tin “Cách mạng 1-11-1963” ra đến Huế, đường lên dốc Phủ Cam bị xe bọc sắt và lính VNCH khoá chặt, vừa để quản thúc Ngô Đình Cẩn và cũng vừa để bảo vệ ông ta. Nếu không canh giữ, dân chúng có thể ùa vào làm thịt Lãnh chúa miền Trung - con người đã gây ra bao tội ác suốt chín năm qua. Có người đến Tổng hội Sinh viên bảo chúng tôi :

-“Nầy, các anh phải cảnh giác tướng Đỗ Cao Trí - Tư lệnh Quân đoàn I và Vùng I chiến thuật[1] - là con người hai mặt đó. Không khéo hắn mở cửa cho Ngô Đình Cẩn chạy ra nước ngoài lúc nào không biết đó!”

Biết thế nhưng sinh viên tranh đấu không có bất cứ một cơ hội nào có thể tiếp cận được Đỗ Cao Trí lúc đó cả. Sau nầy có dịp sưu tập tư liệu về Ngô Đình Cẩn trong thời điểm đó, tôi thấy lời cảnh báo của dân chúng có phần đúng.

Theo những người biết chuyện kể lại, vào lúc 10g45 sáng 2-11-1963, từ Đà Nẵng, Đỗ Cao Trí điện thoại cho Đại uý Nguyễn Văn Minh - hầu cận của Ngô Đình Cẩn rằng:

-“Anh thông báo ngay cho Cậu biết, Sài Gòn vừa báo tin cho tôi hay là Tổng thống và ông Cố vấn chánh trị đã tự tử chết rồi. Tôi không hiểu ra sao nữa!”.

Bà quả phụ Ngô Đình Khả và các con, cháu. Ngô Đình Cẩn khăn đóng áo dài đứng bên trái.

Qua thái độ, cách xưng hô và khẩu khí như thế chứng tỏ Đỗ Cao Trí vẫn còn là người của gia đình họ Ngô.

Nguyễn Văn Minh báo lại cái tin sét đánh ấy cho Ngô Đình Cẩn. Lúc đầu ông Cẩn không tin nhưng rồi cũng phải tin vì đó là sự thực. Ông Cẩn sai Nguyễn Văn Minh liên lạc với cháu ông là Linh mục Nguyễn Văn Thuận ở bên Nhà thờ dòng Cứu Thế. Linh mục Thuận mách cho cậu Cẩn “mọi việc phải nhờ Tướng Đỗ Cao Trí”. Khoảng 1giờ30 trưa, ông Cẩn sai Đại úy Minh gọi điện thoại mời ông Trí ra Huế để bàn việc. Có lẽ ông Trí đã biết rõ quyết tâm diệt nhà Ngô của Dương Văn Minh ở Sài Gòn nên ông không dám ra Huế theo yêu cầu của ông Cẩn. Ngược lại, vào khoảng 3giờ chiều ngày 2-11-1963, ông Trí lệnh cho Thiếu tá Tuấn đem quân đội và xe thiết giáp vây nhà ông Cẩn ở chân dốc Phủ Cam. Không được ông Trí ra giúp cứu nguy mà lại còn bị quân đội bao vây, ông Cẩn mất tinh thần đến cực độ. Bọn gia nô một thời lợi dụng thế lực của ông làm mưa làm gió ở Huế như Nguyễn Văn Minh, Trọng, Độ, và Đào Quang Hiển (Giám đốc Nha Công an Trung phần) không giúp được gì cho ông Cẩn cả. May sao, một người nhà của ông quan sát không thấy quân đội gác ở phía sông Phủ Cam nên ông Cẩn được đưa ra cửa sau chạy qua trốn ở Nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế của cháu ông là linh mục Nguyễn Văn Thuận. Linh mục Thuận thấy dân chúng phẫn nộ chống chế độ dòng họ Ngô Đình như thác lũ đang dâng lên khắp nơi nên ông cũng lo sốt vó. Ông không giúp được gì cho người cậu ruột của mình ngoài việc dành cho cậu một cái phòng kín trong nhà thờ để cậu trốn. Qua được nhà thờ của người cháu mình ông Cẩn vẫn không yên tâm. Ông quá xúc động trước các tin tức về cái chết của hai anh Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Ông thất thần, mặt mày hốc hác. Ông lắc đầu quầy quậy, đập tay lên ngực thều thào:

-“Thôi hết rồi! Thôi hết rồi. Còn chi nữa đâu …”.

Chuyện thật trớ trêu, ngày 2-11 đúng vào ngày sinh nhật Ngô Đình Cẩn! Suốt chín năm cầm quyền của anh em nhà họ Ngô, vào ngày nầy các cấp chính quyền ở khắp miền Trung tụ họp ở nhà ông chúc tụng, dâng hiến hoa quả, thức ngon vật lạ, vàng bạc, châu báu cho ông. Ông không thể nào ngờ vào ngày sinh nhật thứ 51[1] nầy của ông lại chính là ngày đại tang của hai người anh ông!

Chiều ngày 3-11, Tướng Đỗ Cao Trí ra Huế và đi thẳng đến nhà thờ dòng Chúa Cứu thế gặp Ngô Đình Cẩn. Theo tư liệu[2] và hồi ức của người trong cuộc[3] kể lại, ông Trí vẫn niềm nở và trọng vọng ông Cẩn như ngày nào. Ngồi đối diện với ông Cẩn, Trí lễ phép nói:

-“Hội đồng Quân nhân Cách mạng ủy nhiệm con đến đây để thưa lại với Cậu, Tổng thống và ông Cố vấn chết là do tai nạn ngoài ý muốn của các tướng lãnh. Chuyện đã xảy ra như vậy bây giờ biết làm thế nào được. Con cũng xin thưa với cậu, Hội đồng Quân nhân Cách mạng kính mời Cậu tham gia và xin mời cậu đứng trong thành phần của Hội đồng”.

Ông Cẩn có vẻ ngạc nhiên nhưng vẫn giữ yên lặng và nhìn mọi người trong phòng.

Thiếu tướng Đỗ Cao Trí - người tín cẩn của gia đình họ Ngô đã ngã theo đảo chính Diệm vào giờ chót.

Tướng Trí nhận thấy lời mời của mình như diễu cợt không đúng chỗ nên nói thẳng vào điều Trí muốn nói với ông Cẩn:

-“Việc đã xảy ra như vậy thì thế nào, Hội đồng Quân nhân Cách mạng cũng sẽ áp dụng một số biện pháp đối với cậu như tịch biên tài sản… Con nghĩ Cậu nên tính xem thế nào... Cậu có thể đưa cho con giữ hộ”.

Đề nghị của ông Trí cũng đã được ông Cẩn nghĩ tới.  Trước khi ông Trí ra Huế, ông Cẩn đã gọi ông Trọng (?) - một  thân tín của Cẩn dặn rằng:

-“Chiếc bao bố ném ở dưới gầm giường ... trong đó có 24 kí lô vàng. Chiếc valise gồm một số gia bảo và quý vật... mày lo liệu giữ gìn không thì tụi nó lấy hết. Số bạc mặt tao vẫn để trong tủ… Mày cứ trao cho Trí giữ hộ… Cứ trao cho Trí không sao đâu…”.

Đề nghị của ông Trí cao hơn những gì Cẩn đã nghĩ. Nhưng trong hoàn cảnh ấy ông Cẩn không thể nào làm trái ý ông Trí.

Trò chuyện xong, ông Trí-vị Tướng đã ngã về phía đảo chánh Diệm vào giờ chót xách một bao vàng và chiếc valise đựng gia bảo và quý vật của gia đình họ Ngô đặt lên xe Jeep. Sau đó, đoàn xe của ông Trí từ từ rời khỏi Nhà thờ dòng Chúa Cứu thế.

Thấy ông Trí lấy của cải của ông Cẩn mà không giúp được gì cho ông Cẩn cả, Linh mục Nguyễn Văn Thuận và các Linh mục Dòng Chúa Cứu thế lén đến Tòa Lãnh sự Mỹ ở đường Đống Đa  xin cho ông Cẩn tỵ nạn. Nhưng theo luật lệ ngoại giao quốc tế chỉ có Tòa Đại sứ mới có quyền cho tỵ nạn mà thôi. Ông Lãnh sự John Helble điện thoại vào Sài Gòn xin lệnh Tòa Đại sứ và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Tòa Đại sứ chấp thuận một cách dè dặt. Trong lúc đang cứu xét về trường hợp tỵ nạn của ông Cẩn chưa xong, ông Cẩn lại còn đòi cho phép thân mẫu ông là cụ bà Phạm Thị Thân (bà quả phụ Ngô Đình Khả) cùng tỵ nạn với ông nữa, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ buộc lòng phải ra chỉ thị cho Lãnh sự quán của họ ở Huế rút lui quyết định đồng ý cho ông Cẩn tỵ nạn.

Không rõ lệnh lạc ra làm sao, sau khi có tin ông Cẩn đi tỵ nạn, ông Đỗ Cao Trí đến ngay Tòa Lãnh sự cảnh báo Toà đừng chứa chấp ông Cẩn. Nếu Toà chứa ông Cẩn, dân chúng Huế sẽ tràn vào phá Toà và hành hung ông Cẩn thì không có lực lượng nào giữ được an ninh cả. Như thế không một nơi nào trên đất Huế có thể giữ được an ninh cho ông Cẩn, Tòa Lãnh sự Mỹ ở Huế yêu cầu Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn cho di chuyển gấp ông Cẩn ra khỏi Huế.

 Sau đó ông Trí được lệnh của Hội Đồng Quân nhân Cách mạng đưa ông Cẩn cùng với cụ thân mẫu ông vào Sài Gòn.

Ông Lãnh sự Helble kể lại:

- “Tôi được cho biết là sẽ đưa ông Cẩn ra khỏi nước…?”.

Ông Trí cùng với một người sĩ quan Mỹ và một số sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà tháp tùng ông Cẩn và thân mẫu ông lên máy bay đi Sài Gòn vào lúc 10giờ45 sáng ngày 05-11-1963.

Bạo chúa miền Trung Ngô Đình Cẩn đi khỏi Huế và không còn cơ hội trở lại nữa. Qua rồi chín năm máu lửa miền Trung.

*

*          *

Từ chiều ngày 3-11-1963, dân chúng Huế ùn ùn kéo đi “viếng” những nơi nổi tiếng của gia đình họ Ngô như dinh thất ở chân dốc Phủ Cam, Sinh phần của Ngô Đình Cẩn ở  Tứ Ngũ Tây xã Thủy An, nhà nghỉ mát của Ngô Đình Cẩn ở Thuận An. Tôi được lệnh của các Thượng toạ ở chùa Từ Đàm cùng với các sinh viên Phật tử Nguyễn Thiết, Lý Văn Nghiên, Trần Duy Thọ, Thái Thị Ngọc Dư theo chân các đơn vị quân đội Việt Nam Cộng Hòa vừa ngã theo “Cách mạng” lên Tứ Ngũ Tây xã Thuỷ An tìm Phật tử bị giam ở khu vực Chín Hầm[4].

Đối với tôi, cái tên Chín Hầm hết sức dễ sợ. Cho đến lúc đó tôi chưa có dịp đặt chân đến khu vực ấy nhưng nghe nói đến hai chữ Chín Hầm tôi cũng như nhiều người dân Huế sợ lắm. Khi tôi đang dạy các em Hương, Hải ở nhà cô Vy (đường Mai Thúc Loan) thì xảy ra cuộc đảo chính Diệm do Đại tá Vương Văn Đông và Đại tá nhảy dù Nguyễn Chánh Thi cầm đầu (11-11-1960). Ông Lê Thúc Huyến - chồng cô Vy, làm Trưởng ty Thanh Niên, bị bắt đưa lên giam ở Chín Hầm vì cái tội tưởng Diệm đã bị đảo chánh, nên hạ ảnh Ngô Tổng thống xuống, không ngờ đảo chánh bất thành. Ông Huyến đi tù, tôi mất chỗ dạy. Cũng trong dịp đó, ông Bửu Bang - Chủ hiệu Rồng Vàng, nơi tôi đã làm gia sư trước đó cũng bị ông Cẩn bắt với tội danh là “gián điệp miền Trung”. Sau đó tôi còn được biết trong vụ gián điệp miền Trung còn có tên nhiều nhà tư sản khác nữa như doanh nhân Nguyễn Văn Yến - Chủ hãng Morin, ông Đức Sinh - Chủ một tiệm buôn lớn ở phố Trần Hưng Đạo v.v...

Khi chúng tôi lên đến khu vực Chín Hầm thì đã thấy dân chúng cầm dao búa gậy gộc vây quanh các hầm. Khi biết có lệnh của “Cách mạng” mở cửa Chín hầm, dân chúng ùa vào đập phá mở tung các hầm. Các Phật tử bị giam ở đây đã được di chuyển về các trại giam khác từ trước khi phái đoàn điều tra của Liên Hiệp quốc đến Huế cách đó mấy tháng. Đa số tù nhân còn lại ở Chín hầm lúc đó là tù chính trị. Không tìm thấy các Nhà sư và Phật tử chúng tôi rất băn khoăn nên không để ý đến những chuyện khác. Sau năm 1975, có dịp nghiên cứu Huế, tôi mới hiểu khu vực Chín hầm một cách cặn kẽ.

Trước khu tưởng niệm những liệt sĩ đã bỏ mình ở nhà tù Chín Hầm

Mặt trước mỗi hầm trổ cửa to, cao, chắc chắn, trông ra khoảng trống thoai thoải xuống chân đồi, ba mặt kia là tường bê-tông xây sát vào thành đất. Hầm có chiều sâu chừng 10 mét, chiều ngang chừng 6m, chiều cao chừng 4m, được ngăn thành hai dãy xà lim chuồng cọp, có cửa gỗ mở ra lối đi ở giữa hầm. Mỗi chuồng cọp dài khoảng 2m, rộng 0,9m. Tường ngăn các chuồng cọp cao 2m, mỗi chuồng có một lưới sắt tạo bởi 16 song sắt ngang và hai thanh sắt dọc chặn trên đầu. Ban ngày ánh sáng hắt vào xà lim nhờ nhờ, ban đêm tối om. Trời nắng, trong hầm nóng như nồi rang, trời mưa nước giọt trên đầu tù nhân, lạnh buốt xương da. Tù nhân không được ra ngoài vệ sinh, tất cả đều đi trong thùng và một tuần mới có người đưa đi đổ. Các cựu tù nhân Chín hầm mà tôi còn gặp ở Huế cho biết mỗi ngày tù chỉ được ăn hai bữa, cơm hẩm với mắm thối hoặc rau muống già ; giờ cho ăn tùy hứng của người phục vụ, có thể cách nhau 3 tiếng đồng hồ và cũng có thể từ rạng sáng đến tối mịt mù. Phải giam cực hình như thế để cho những người tù cách mạng chuyển hướng và những người chống đối phải đầu hàng.

Có vô số chuyện về tội ác của gia đình họ Ngô thực hiện ở đây. Ông Võ Côn vốn là một Tỉnh trưởng ở Bình Định, vì không ăn cánh với Cẩn nên bị vu là mật thám Pháp. Ông Côn bị bắt và bị giam bí mật ở Chín hầm. Được tin chồng đang thoi thóp sắp chết, bà Côn bí mật lên Chín hầm đấu tranh, chửi bới tưng bừng. Bọn Cẩn buộc lòng phải để bà đưa chồng về. Về nhà ông Côn mất. Ông Nguyễn Hữu Bích đi tập kết, vợ ông ở lại tiếp tục hoạt động, bị địch bắt, bị tra tấn vô cùng dã man nhưng bà Bích vẫn không khai. Cuối cùng bà bị đưa lên giam ở Chín hầm.

Tác giả cùng với ông bà Nguyễn Minh Vân trong ngày 22-12-2008 phục chế xong hầm số 8 - địa ngục trần gian - nơi ông Vân đã chịu cực hình suốt nhiều năm trước 1-11- 1963

Như tôi đã đề cập ở trên, sau cuộc đảo chánh 11-11-1960 không thành, Nguyễn Chánh Thi phải chạy trốn sang Căm pu chia, nhiều nhà giàu ở Huế như Đức Sinh, Nguyễn Văn Yến, Rồng Vàng bị vu là “gián điệp miền Trung” bị bắt đưa vào giam ở Chín hầm. Các gia đình nầy phải cắt một phần lớn tài sản của mình nộp cho Ngô Đình Cẩn mới được yên. Thậm chí có cả chuyện các bà vợ của những người tù phải hiến thân cho bọn tay chân nhà họ Ngô thì chồng họ mới được cứu xét thả ra. Chồng về nhà hay tin vợ đã “thất thân”, rất đau buồn. Vợ cảm thấy nhục nhã, có bà đã quyên sinh. Gia đình các nạn nhân nát ra từng mảnh.

Ông Trần Quốc Hương (là cấp trên trực tiếp của các nhà tình báo: Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn) từng bị giam tại đây. Người tù Chín hầm được cả thế giới biết đến là Đại tá tình báo Nguyễn Minh Vân tức Nguyễn Đình Quảng, con trai ông Phó bảng người Quảng Nam Nguyễn Đình Hiến. Ông Vân bị cực hình ở Chín hầm từ 11-1961 đến 11-1963.

Trong thời gian ấy ông đã sáng tác và học thuộc lòng 3000 câu thơ nói lên những ngày bị cực hình trong khu biệt giam Chín hầm. Sau ngày Diệm bị lật đỗ, ông được cứu thoát ra khỏi Chín hầm. 3000 câu thơ viết từ cõi chết đã được bí mật chuyển ra Hà Nội và in vào cuối năm 1973 với tựa đề Sống Trong Mồ với tên tác giả là Nguyễn Dân Trung. Tập thơ đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và in trên các báo văn học của Âu Mỹ. Xin trích một số câu:

“Anh thu hình vào một góc co ro/ Gió ngoài rừng không ngớt thổi vi vo/ Và chốc chốc lại luồn vào trong động/ Leo theo vách lách vào lưng vào bụng/ Tay ma nào dạo trên khắp làn da? Vuốt quỷ đâu móc vào tận ruột già/ Nước mưa dột vẫn đều đều rơi mạnh/ Ngồi trên ván tưởng ngồi trên đá lạnh:...

Mới đây những người đi tìm xác đồng đội đã tìm được trong khu vực sinh phần Ngô Đình Cẩn và Chín Hầm hài cốt của các sĩ quan tình báo cách mạng gồm các ông Phan Trọng Tịnh, Lý Văn Tố, Phan Hữu Đà. Ông Lý Văn Tố đã bị cưỡng bức đi gánh nước tưới cam cho Ngô Đình Cẩn kiệt sức chết và bị dập dưới gốc cam. Mãi cho đến năm vừa rồi mới tìm được hài cốt của ông.

Sau năm 1975, cụ Đào Duy Anh về thăm Huế, nơi cụ yêu cầu tôi đưa đi thăm đầu tiên là di tích khu biệt giam Chín hầm. Lúc ấy di tích tội ác Chín hầm còn như nguyên vẹn[5], đứng trước một cửa hầm trơ trụi giữa một vùng đồi trọc nắng gắt, với chòm râu bạc ướt đẫm mồ hôi, nhà sử học lão thành Đào Duy Anh đã không cầm được nước mắt, bảo tôi:

...

*

*     *

Sinh viên Đại học Huế nghe kể chuyện Ngô Đình Cẩn xây dựng sinh phần của mình bằng của cải báu vật của dân chúng Huế.

Chuyện mở cửa ở Chín hầm chưa xong thì có người tìm sinh viên chúng tôi báo dân chúng đang phá và “hôi của” ở khu vực “Sinh phần Ngô Đình Cẩn”. Để cho dân chúng “hôi của” là làm mất mặt “Cách mạng” nên chúng tôi kéo một tiểu đội lính VNCH chạy sang khu vực “sinh phần Ngô Đình Cẩn” cách đó gần 1 km.  Khu sinh phần của Ngô Đình Cẩn xây trên sườn một ngọn đồi thoai thoải quay mặt về hướng đông bắc. Một hòn non bộ lớn được dựng lên trong một hồ bán nguyệt ngăn cách vùng đồi có nhiều chùa chiền tháp cổ với sinh phần của Ngô Đình Cẩn.

Khu vực chung quanh sinh phần nầy rộng đến hàng mấy chục héc-ta, trồng toàn cam, đường đi lối lại hoa cỏ được cắt xén tươm tất. Kiến trúc chính là một cái lầu tứ giác tạo dựng bởi chất liệu xi-măng cốt sắt giả gỗ cổ, phần còn lại đắp sành sứ theo kiểu lăng Khải Định, một tòa lầu rộng lớn với bộ cột kèo xuyên trến đều bằng xi-măng cốt sắt giả gỗ. Đồng bào dao búa trong tay, kẻ chặt cây  người phá nhà chan chát. Những người xuất thân trong các gia đình bị Ngô Đình Cẩn tước đoạt tài sản vừa hùng hổ đập phá vừa chưỡi bới kêu khóc inh ỏi. Chúng tôi cũng kêu gọi dân chúng không được “hôi của” và hãy dừng tay đập phá. Sinh phần của Ngô Đình Cẩn là một chứng tích tội ác mà Cẩn đã tạo bởi những của cải vật chất quí giá của người dân xứ Huế. Phải giữ lấy cho đời nầy và muôn đời sau thấy tội ác của vị lãnh chúa nầy. Do uy tín của sinh viên đồng bào dừng tay đập phá, nhưng sau khi chúng tôi lên xe về thành phố thì việc trả thù lại tiếp tục cả năm sau chưa dứt.

Phế tích Sinh phần Ngô Đình Cẩn còn lại đến ngày nay

Những xác nhà bê-tông cốt sắt còn lưu lại cho đến ngày nay là chứng tích tội ác nhắc nhở con người rằng: Của phi nghĩa không bao giờ được kết thúc yên ổn cả.

Sinh viên Huế với lính VNCH theo Phật giáo chống chế độ Ngô Đình Diệm trước sinh phần Ngô Đình Cẩn đang bị dân chúng phẫn nộ đập phá.

*

*         *

Suốt tháng 11-1963 cho đến gần tết Giáp thìn (1964) sinh viên Huế được mời dự nhiều cuộc tiệc. Tiệc mừng được trả tự do, mừng chế độ Ngô Đình Diệm cáo chung, và cả chuyện mừng một ai đó sắp được thăng chức. Riêng những sinh viên vừa ra khỏi nhà tù của chế độ Diệm được mời đi nói chuyện tranh đấu chống Diệm ở các nơi. Tổ kể chuyện tranh đấu của tôi có ca sĩ Hoàng Thị Xuân Mai - cháu của bà Từ Cung, hát rất hay (nổi tiếng nhất là bài Tiger), quần chúng rất ngưỡng mộ nên được nhiều nơi mời. Cuộc đời tôi gắn bó với người lao động từ đó.

(Trích Nguyễn Đắc Xuân, Từ Phú Xuân đến Huế, tập 2, NXB Trẻ, 2012, tr.56-72)


[1] Gồm các tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Bình, Quảng Tín, Quảng Ngãi và thị xã Đà Nẵng. Vùng I chiến thuật được chia làm 2 khu chiến thuật: khu 11 gồm các tỉnh Bắc đèo Hải Vân, khu 12 gồm các tỉnh Quảng Tín, Quảng Ngãi và Biệt khu Quảng Đà gồm tỉnh Quảng Nam và thị xã Đà Nẵng (BTV).

[1] Ngô Đình Cẩn sinh nhật ngày 2-11-1912

[2] Trịnh Quốc Thiên

Vụ hành quyết ông Ngô Đình Cẩn (1964)

http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=2547

[3] Nguyễn Văn Minh

Dòng Họ Ngô  Đình, Ước mơ chưa đạt

http://vnthuquan.net/TRUYEN/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nmnnnmn1n31n343tq83a3q3m3237n2n

[4] Chín hầm thuộc xã Thủy An, cách trung tâm thành phố Huế, khoảng 6 km về phía tây nam, dưới chân núi Thiên Thai. Đây là khu vực kho tàng vật liệu vũ khí chiến tranh do quân đội Pháp xây dựng từ năm 1941. Đến sau ngày 9-3-1945, phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp, chín cái hầm kiên cố này bỏ  hoang. Từ sau năm 1954, Ngô Đình Cẩn dùng nơi này để biệt giam tù chính trị và những phần tử chống chế độ của gia đình họ Ngô một số người dân Huế đấu tranh chống chế độ độc tài gia đình trị họ Ngô.

[5] Đến cuối những năm chín mươi thế kỷ trước dậy lên phong trào thu nhặt sắt phế thải xuất khẩu, một số người hám lợi đã đập nát cả chín cái nhà giam chứng tích tội ác để lấy sắt. Ngày 16-12-1993, khu vực Chín hầm được xếp hạng di tích (tội ác của chế độ cũ) cấp quốc gia. Cuối năm 2008, mốt số hầm đã được phục chế như cũ.

 

 
 
Các bài Phóng sự - Bút ký khác
Các bài Nghiên cứu