Ý tưởng 2: Làm sao lấy lại lòng tin của quần chúng đối với các nhà khoa bảng?
Lâu nay báo chí hay nhắc đến ý tưởng của tiền nhân “Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh”. Ý tưởng nầy to tát thật nhưng không may trải qua một thời gian dài nó bị phủ bụi trong các kho sách cũ. Trong khi đó, người Nhật - một nước cùng nằm trong vùng ảnh hưởng Nho giáo như Việt Nam, lại xem “nguyên khí” như một thực thể của đời thường. Người nói tiếng Pháp gặp nhau chào “Comment allez vous !” Người nói tiếng Anh chào nhau “How are you ?”. Người Nhật gặp nhau hỏi “ O genki des u ka ?” (Nguyên khí anh có tốt không? có nghĩa là sức khoẻ anh có tốt không?). Một con người mà sức khoẻ không tốt là người bệnh. Một quốc gia mà nguyên khí (sức khoẻ) kém, thì làm sao phát triển được? Cho nên việc tìm hiền tài, sử dụng hiền tài là việc hệ trọng số một của một quốc gia.

 

Muốn tìm hiền tài xưa nay chỉ có hai con đường: Con đường chính là khoa cử và con đường phụ là tiến cử. Từ khoa cử mà có các nhà khoa bảng. Không phải tất cả các nhà khoa bảng đều là người tài, nhưng nếu việc tổ chức khoa cử tốt thì có thể nói đa số khoa bảng là người tài. Hàng ngàn năm qua các vị có ăn học với tượng đồng bia đá còn lại ở các Văn miếu đã chứng minh điều đó. Cái bi kịch của Việt Nam hiện nay là có quá nhiều nhà khoa bảng mà đất nước lại quá thiếu người tài. Nhiều nhà khoa bảng có tài thật bị đánh đồng với các nhà khoa bảng dỏm. Trước mắt dân chúng các danh hiệu học vị học hàm “Thạc sĩ, Tiến sĩ, Phó Giáo sư, Giáo sư” là chuyện đáng ngờ. Nhiều người có tài nghe nói đến bằng cấp Thạc sĩ, Tiến sĩ thì nhếch môi cười. Cái giá trị cao quý nhất của xã hội hướng đến là tri thức bị khủng hoảng làm ảnh hưởng đến tất cả các lãnh vực khác của đất nước.

Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng “mất giá” học hàm học vị Việt Nam hiện nay có lẽ phải trả lời bằng một công trình nghiên cứu của các nhà học thật. Riêng trong ý tưởng thứ hai nầy, tôi thử đế xuất một vài ý kiến nhằm lấy lại lòng tin của quần chúng đối với các nhà khoa bảng Việt Nam hiện nay. 

1. Làm thế nào để lấy lại uy tín?

Theo tôi được biết giá trị các bằng cấp Tiến sĩ, Thạc sĩ, ở các nước phương Tây có giá trị khác nhau, tùy theo ngành, tùy theo trường, tùy theo cấp bậc, tùy theo quốc gia: Ví dụ ở Pháp: Với các ngành Luật (Droit), Y (Médecine) Thạc sĩ (Agrégé) cao hơn Tiến sĩ Văn khoa (Docteur ès lettres). Đối với Văn khoa (Tiến sĩ quốc gia (Docteur d’État) có giá trị hơn Thạc sĩ. Cùng đỗ Tiến sĩ tại Đại học Sorbonne (Paris), nhưng Tiến sĩ quốc gia (Docteur d’État) là thầy của Tiến sĩ Đại học (Docteur d’Université) và Tiến sĩ Đệ tam cấp (Docteur du 3è Cycle); Tiến sĩ Đại học Paris được trọng hơn Tiến sĩ ở các địa phương khác như Lille, Grenoble, Toulouse, Marseille .v.v. Được xem lý lịch các thầy giáo của tôi trước đây, tôi thấy các danh hiệu văn bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ còn được ghi chú chi tiết hơn như học tại trường nào, tên luận án, ai hướng dẫn (patron), luận án được in thành sách và lưu giữ ở các thư viện để sinh viên và các nhà nghiên cứu tham khảo, đề tài luận án đã đưa vào ứng dụng chưa, từ sau khi lấy bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ đã làm những công trình gì và đang nghiên cứu đề tài gì. Đã là Tiến sĩ Thạc Sĩ và Giáo sư rồi nhưng nếu hai năm không dạy, không có công trình nghiên cứu mới thì rất dễ bị loại, trừ những người đứng đầu một ngành chuyên môn nào đó ở mức độ cao nhất và hiện đại nhất đã có một “cái ghế” (une chaire) vĩnh cửu ở một Đại học nào đó (như ở Collège de France).

Nói đến Đại học là nói đến môi trường trí thức nhất, nói đến trí tuệ cao nhất của một địa phương, một dân tộc, nó phải được công khai, dân chủ, trung thực, tiên tiến. Một người có học vị Tiến sĩ biết tự trọng khi in danh thiếp không bao giờ đề Tiến sĩ không thôi mà phải ghi chú rõ là Tiến sĩ quốc gia, Tiến sĩ Đệ Tam cấp hay Tiến sĩ Đại học, hoặc Tiến sĩ ở Đại học nào[1]. Nếu không đề rõ như thế người được trao đổi danh thiếp sẽ hỏi những thông tin tối thiểu ấy. Chuyện bằng cấp phải rạch ròi như thế mới có đủ căn cứ để tuyển dụng, nâng bậc lương cất nhắc lên các chức vị.             

Những thông tin sơ lược về chuyện bằng cấp nêu trên không lạ gì với ngành giáo dục đào tạo Việt Nam. Nhưng nếu ngành thực hiện rạch ròi như thế thì làm gì có chuyện như Giáo sư Hoàng Tụy nói: “phải miễn nhiệm ít nhất 1/3 số giáo sư, phó giáo sư đã phong”(2). Ai hưởng lợi và lộc trong việc cấp 30% học hàm  kém chất lượng ấy ? Ai cũng có thể trả lời được câu hỏi nầy. Báo Lao Động cách đây gần mười năm đã từng theo đuổi trường hợp một ông Tiến sĩ toán chép công trình của thầy trò Giáo sư Huỳnh Mùi ở Hà Nội, đem qua Grusia trình, bị lật tẩy, bộ Giáo dục và Đào tạo phải mất nhiều công sức mới khẳng định được sự thực sao chép ấy. Và mới đây, một Tiến sĩ “con xén tóc” ở Huế đã xén công trình của ông Ngô Tuệ (một người làm vườn), bị ông Ngô Tuệ và báo chí tố cáo nhưng nào có thể truất cái bằng Tiến sĩ xén tóc ấy? Nội dung các luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ ra sao ít người được đọc, ngay cả sinh viên nơi Đại học cấp các học vị ấy cũng ít người biết. Nhưng qua một số công trình, dự án được quốc gia, quốc tế tài trợ được công bố thấy có nhiều công trình, dự án do hàng chục Thạc sĩ, Tiến sĩ thực hiện không có mấy giá trị. Thậm chí có những công trình được xếp vào loại “mẫu mực” lạc hậu. Ví dụ như công trình Từ điển lịch sử Thừa Thiên Huế cách đây mấy năm. Có vị Thạc sĩ, Tiến sĩ không viết nổi một bài để đăng vào tập san, báo chí trong nước. Thế mà những người ấy đang xách cặp đi dạy khắp nước, giữ những chức vụ rất quan trọng trong bộ máy nhà nước, bộ máy giáo dục hiện nay. Cho nên tôi nghĩ không có một phép thần nào có thể rút lại 30% học hàm dỏm đã cấp. Nhưng nhà nước với quyền hạn của mình có thể đưa ra các biện pháp hạn chế tác hại của các học hàm học vị dỏm và lấy lại lòng tin của quần chúng trí thức sinh viên đối với các vị có học hàm, học vị thật. Ví dụ nhà nước có thể bắt buộc các vị có học hàm học vị làm một Phiếu Thẩm Tra với những nội dung đơn giản sau đây:

- Học trường nào, nước nào, thời kỳ nào, ai là giáo sư hướng dẫn?

- Luận án trình bày về đề tài gì?

- Nghiên cứu sinh thuộc loại học tập trung chính qui, tại chức hay hàm thụ, từ xa ?

- Bằng thực thụ hay bằng phiên qua từ các loại văn bằng khác? Phiên qua từ năm nào?

- Đã ứng dụng đề tài luận án vào thực tế chưa? Hiệu quả ra sao? Hiện luận án đang lưu giữ ở đâu?

- Nếu chưa đưa vào thực tế, cho biết nguyên nhân vì sao? 

- Sử dụng được sinh ngữ hoặc ngoại ngữ nào?

- Từ sau khi đỗ Thạc sĩ, Tiến sĩ đã có thêm những công trình gì?

- Có công trình nghiên cứu nào được giới thiệu ở nước ngoài hay nước ngoài yêu cầu được tham khảo, sử dụng?

Nếu các vị học hàm học vị trả lời trung thực cho những câu hỏi trên thì một Ban thẩm định học hàm học vị quốc gia có thể đánh giá sơ bộ đội ngũ học hàm học vị Việt Nam như thế nào. Nếu có cá nhân nào trả lời không thật thì đó là cơ hội để đánh giá cái học hàm học vị của họ khi Ban thẩm tra biết rõ sự thật.

2. Cách xử lý

Các sinh viên muốn đi học các nước Anh, Mỹ phải có bằng TOEFL tiếng Anh. Thi bằng TOEFL rất khó. Nhưng bằng nầy chỉ có giá trị 2 năm. Sau hai năm muốn dùng bằng TOEFL thì phải thi lại. Trong hai năm đó thực sự tiếng Anh không có mấy thay đổi, nhưng muốn cập nhật bắt buộc phải thi lại. Tiếng Anh mà đã phải như thế huống hồ các ngành khoa học khác. Với thời đại bùng nổ thông tin hiện nay trong hai năm có biết bao nhiêu khám phá mới. Do đó Việt Nam bước vào thời hội nhập cũng phải cập nhật tri thức, các nhà khoa bảng Việt Nam trước hơn ai hết phải cập nhật tri thức của mình. Nếu ai không cập nhật được thì xin nhường chỗ cho tuổi trẻ. Có “anh hùng thời kỳ đổi mới” thì cũng phải có các học hàm học vị Thạc sĩ, Tiến sĩ, Giáo sư thời kỳ đổi mới, chưa ngang tầm thế giới thì ít ra cũng phải ngang tầm với các nước trong vùng. Ví dụ đưa ra một vài tiêu chí như:

- Một Thạc sĩ, Tiến sĩ phải sử dụng được một ngoại ngữ (Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc…) liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình. Chưa đủ trình độ ngoại ngữ thì phải đi học lại;

- Những ai chưa có thêm công trình sau khi có Thạc sĩ, Tiến sĩ thì phải nghiên cứu một công trình mới cần thiết cho xã hội hiện nay.

Bổ sung được hai yêu cầu trên mới được xác nhận giá trị của học hàm học vị thời kỳ đổi mới.

Ngày xưa triều Nguyễn thiếu thông tin, lạc hậu so với thời đại chúng ta nhưng cũng đã biết chia các bậc đại khoa thành thành nhiều hạng: Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng Giáp, Tiến sĩ và sau cùng là Phó bảng. Tuy là đỗ đại khoa nhưng trình độ giữa các ông Bảng nhãn, Thám hoa cách biệt với các ông Tiến sĩ, Phó bảng. Và, như trên đã trình bày, người Pháp cũng chia các Tiến sĩ thành nhiều bậc: Tiến sĩ quốc gia, Tiến sĩ Đại học và Tiến sĩ Đệ tam cấp. Cùng mang bằng Tiến sĩ mà cấp bậc được phân biệt rõ ràng. Vậy nên chăng, Việt Nam cũng cần phải phân loại ví dụ như Tiến sĩ quốc gia, Tiến sĩ Đại học, Tiến sĩ hàm thụ hay một  tên gì gì đó thích hợp nhất, được xã hội chấp nhận và không làm cho thế giới ngạc nhiên.

Hiện nay đang lưu hành hai danh hiệu khó hiểu: “Tiến sĩ” và “Tiến sĩ khoa học”. Nhiều người hỏi phải có công trình khoa học mới đỗ được Tiến sĩ, còn loại Tiến sĩ không khoa học là Tiến sĩ gì? Trong thực tế tôi đã làm việc với nhiều “Tiến sĩ  không khoa học” mà rất giỏi, họ có nhiều công trình khám phá để đời, ngược lại có nhiều vị “Tiến sĩ khoa học” hẳn hòi mà tôi hơi ngờ về trí thức của họ và chưa hề được nghe thấy một công trình khoa học nào của họ cả. (Nếu các vị đó có nhiều công trình khoa học để đời mà tôi không biết thì tôi xin lỗi vậy). Tại sao một đất nước nghìn năm văn hiến, một năm sản sanh ra hàng ngàn Thạc sĩ, Tiến sĩ mà chỉ với một cái tên học vị không thôi mà cũng không qui định cho rạch ròi? Nhiều thầy cô giáo bảo tôi: “Ông ơi, người ta biết hết, nhưng phải quậy cho nước đục mới vỗ béo được cò?” Tôi không tin điều đó nhưng tôi không có đủ thông tin để bác bỏ. 

Nền giáo dục Việt Nam đang kêu cứu, học hàm học vị bát nháo, nhưng trí thức Việt Nam không thiếu người có thực học, tâm huyết, can đảm sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giáo dục của nước nhà. Nhóm trí thức chung quanh Giáo sư Hoàng Tụy là một điển hình. Do đó, tôi tin nếu nhà nước mạnh dạn lập một Hội đồng quốc gia giáo dục gồm những người có thực học trong nước và cả Việt Kiều ở nước ngoài để lo việc xây dựng cho Việt Nam một nền giáo dục mới, tôi tin những khó khăn về giáo dục của ta hiện nay có thể vượt qua được. Trong Hội đồng quốc gia giáo dục có một Ban thẩm định lại học hàm học vị. Căn cứ trên Phiếu Thẩm Tra đã được thẩm tra phân loại lại trình độ và cấp giấy chứng nhận loại A (Tiến sĩ quốc gia), Loại B (Tiến sĩ Đại học) và loại C (Tiến sĩ ….). Việc thẩm tra, duyệt xét đều được công khai trên các phương tiện truyền thông. Giáo viên, sinh viên, quần chúng và báo chí sẽ cung cấp cho Ban thẩm định những thông tin cần thiết để Ban tham khảo trước khi có quyết định cuối cùng.

Những người có văn bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ đã được chứng nhận mới được giữ những chức vụ cũ, được giảng dạy tiếp, được nâng lương, được bổ dụng vào những chức vụ cần đến chuyên môn của cái bằng ấy. Học hàm Phó Giáo sư, Giáo sư cũng tùy đó mà tồn tại hay không tồn tại (về giá trị). Những người từ chối việc thẩm tra là họ tự rút tên mình ra khỏi danh sách những nhà khoa bảng thật của nước Việt Nam. Tôi nghĩ nhà nước hằng năm bỏ ra hàng trăm tỷ đồng để tổ chức các kỳ thi, trong đó có một phần ngân sách khá lớn để thi tuyển cung cấp cho đội quân thất nghiệp hàng ngàn người. Do đó, nhà nước cũng có thể bỏ ra chừng đó ngân sách để tổ chức thẩm định lại giá trị các học vị học hàm nhằm lấy lại uy tín cho các nhà khoa bảng Việt Nam, để nhà nước tuyển dụng được người tài giúp nước. Tại sao không?

Chỉ qua Phiếu Thẩm Tra đơn giản trên tôi nghĩ sẽ có ít nhất 50% Thạc sĩ, Tiến sĩ,  Giáo sư không hội đủ các yêu cầu tối thiểu nêu trên. 50 % ấy sẽ không được cấp giấy xác nhận về trình độ khoa học. Văn bằng của họ không còn giá trị sử dụng. Mảnh giấy bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ của họ chỉ còn là một kỷ niệm.

Nếu ý tưởng trên trở thành hiện thực thì Nhà nước nên soạn thành Pháp lệnh với những điều khoản rõ ràng:

- Cơ quan ban ngành trường học nào sử dụng những văn bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ chưa được thẩm định là phạm luật;

- Người có văn bằng đã được thẩm định và phân loại phải ghi rõ, nói rõ đó là Tiến sĩ gì? (Quốc gia, Đại học hay ….), không được lấp lửng à uôm đánh lừa người khác; 

 - Từ đây về sau đào tạo văn bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ phải chia thành nhiều cấp, không được nhầm lẫn giữa cấp nầy với cấp kia; chỉ số lương, chức vụ  của từng cấp tương xứng với trình độ của từng cấp;  

 Ngoài ra Quốc hội cũng cần phải có luật về đào tạo và sử dụng  khoa bảng. Nếu đào tạo và sử dụng khoa bảng không đúng luật là phạm pháp. Người chịu trách nhiệm đào tạo và sử dụng khoa bảng phạm luật phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. 

3. Lời kết

Trí thức là người cần đạt trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ chứ không phải cần đạt mảnh bằng. Khi đã có trình độ, mảnh bằng đương nhiên sẽ tìm đến với mình chẳng phải lo chạy chọt, giành giật làm gì. Mảnh bằng chỉ có công dụng hợp thức hoá trình độ trước mắt xã hội. Phát bằng thiệt cho những người không đủ trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ để những người nầy hợp thức hoá chức vị của mình là xúc phạm đến trí thức. 

Học vị Thạc sĩ, Tiến sĩ là cái chuẩn cao nhất của bất cứ một nền giáo dục nào. Đó là cái đích để cho tuổi trẻ có thực tài vươn lên. Nếu những cái đích đó là đồ dỏm, không có giá trị thì lấy gì làm đích cho tuổi trẻ vươn lên? Pháp luật đã đưa những người làm hàng dỏm, hàng giả ra toà, đến bao giờ pháp luật mới đưa những người có trách nhiệm trong việc phát bằng thiệt cho những người học giả, đưa những người học giả chạy chọt để có bằng thiệt ?

Là một người cầm bút, quanh quẩn với các đề tài Triều Nguyễn và Huế xưa, lại không xuất thân khoa bảng, tôi biết chuyện lạm bàn về khoa bảng - giáo dục của tôi quả là chuyện “đá lộn sân”. Bởi thế, thực hiện bài viết nầy tôi không hy vọng cung cấp được một điều gì mới mẻ để các vị có trách nhiệm với sự nghiệp giáo dục tham khảo mà chỉ mong nêu một điển hình về sự quan tâm của quần chúng đối với sự nghiệp giáo dục của nước nhà mà thôi. Nếu có điều gì sơ suất bất cập thất thố kính mong quí thức giả lượng thứ cho một người “ngoại đạo”. Sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp chung của toàn dân tộc. Nếu tất cả những người quan tâm đến giáo dục đều thể hiện ý tưởng của mình lên báo chí, thì thế nào cũng xuất hiện được những ý tưởng hay. Tôi mong nhận được những ý kiến phản hồi.

Huế đầu tháng 9-2004

Nguyễn Đắc Xuân


[1] Danh thiếp Luật sư Tiến sĩ Trần Anh Tuấn (TP HCM) đề Ph.D. Syracuse University, New York USA 

(Syracuse University nổi tiếng về môn Hành chánh công. NĐX)

(2) Trích lại của Vu Gia, Chọn Nhân Tài, VN số 35-36 (2-9-2004), tr. 27

 

 
 
Các bài Giáo dục khác