Ý tưởng 5: Cải cách giáo dục bắt đầu từ khâu nào?
Quốc gia giáo dục là một hoạt động xã hội nhân văn có hệ thống liên quan đến nhiều khâu như chủ trương, chính sách, luật lệ của nhà nước, thị trường lao động, trường ốc, ngân sách, học phí, trình độ dạy dỗ của thầy giáo và khả năng tiếp thu của học sinh, phẩm chất sách giáo khoa, thư viện, đồ dùng dạy học, phòng thí nghiệm, bối cảnh xã hội và gia đình, v.v. và v.v.
 

Về chi tiết có thể có khác nhau, đại thể thì quốc gia giáo dục của bất cứ một nước tiên tiến hay chậm tiến nào trên thế giới cũng đều phải tùy thuộc vào những khâu nêu trên. Tuy nhiên, trong những khâu ấy có những khâu thuộc loại cần và những khâu thuộc loại đủ. Do vậy, nói đến cải cách giáo dục trước tiên phải xét đến những khâu cần, nếu không có nó (cần) thì không có giáo dục.

Quan sát sinh hoạt của các cháu thiếu nhi ở độ tuổi đi nhà trẻ ta thấy các cháu có một nhu cầu tự phát là tìm hiểu thế giới chung quanh, các cháu hỏi hết cái nầy đến chuyện kia. Hỏi để hiểu biết, để khám phá. Đã hỏi thì phải có người trả lời. Người đó là ông bà, cha mẹ, anh chị em, cô nuôi dạy trẻ. Những người ấy là người thầy đầu tiên của đứa trẻ. Có thể nói khái quát: làm người là có nhu cầu “học”. Ở đâu có con người là ở đó có nhu cầu học. Đáp ứng cho nhu cầu học của con người, chính là ông thầy. Ông thầy quyết định “phẩm chất người” cho con người. Bởi thế từ xa xưa ông cha ta đã đúc kết  “Không thầy đố mầy làm nên”. (Nên người, nên sự nghiệp).

Cách đây mấy ngàn năm, không nghe đề cập đến chủ trương, chính sách, pháp luật, trường ốc, sách giáo khoa…gì cả mà các bậc thầy như Đức Phật Thích Ca, Đức Khổng Tử … đã dạy, đã đào tạo ra các thế hệ học trò thành Phật, thành Thánh, làm thầy thiên hạ bằng chính phương tiện truyền khẩu. Về sau đệ tử của các Thầy mới ghi chép những lời thầy dạy thành kinh, thành sách lưu truyền cho đến ngày nay. Vậy thì, ông thầy là khâu quan trọng nhất trong bất cứ nền quốc gia giáo dục nào.

*

*     *

Không phải là nhà nghiên cứu giáo dục, tôi không bàn đến người thầy giáo chung chung. Ý tưởng thứ 5 nầy, tôi dành để nói về người thầy giáo của Việt Nam thời mở cửa, hội nhập toàn cầu.

Nói đến hội nhập toàn cầu là nói đến thị trường. Nói đến thị trường là nói đến hàng hoá và con người làm ra hàng hoá đó - con người có tri thức, có chất xám. Để cho đất nước phát triển vươn lên, cả Đảng và nhà nước cùng dân chúng ngày đêm lo nghĩ làm sao trang bị nhà máy kỹ thuật hiện đại để sản xuất cho được những sản phẩm có chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000, 9001, 9002 .v.v. để đưa vào thị trường châu Âu, thị trường Nhật Bản, đặc biệt là thị trường Mỹ v.v. Nhưng hầu như ta chưa quan tâm đúng mức đến việc làm sao để có được những con người có trình độ như con người trong các thị trường hàng hoá mà Việt Nam đang tìm cách cạnh tranh, hay ngay các thị trường trong khu vực như Mã Lai, Tân Gia Ba, Thái Lan. Vì chưa có con người theo tiêu chuẩn quốc tế ấy cho nên hàng hoá Việt Nam đưa vào các thị trường là hàng gia công (may mặc, giày da), là nguyên liệu sơ chế (gạo, cà-phê, thủy sản đông lạnh, dầu thô). Việt Nam phải bán 7 tấn lúa mới mua được một máy vi tính xách tay loại xoàng. Trong lúc thế giới đang phấn đấu cho một nền kinh tế tri thức thì chúng ta vẫn dậm chân ở cái ngưỡng gia công và xuất khẩu nguyên liệu sơ chế. Như vậy Việt Nam muốn hội nhập, muốn phát triển, muốn rút tên khỏi bản danh sách các nước kém phát triển thì trước tiên phải có con người có tri thức hiện đại để làm ra những sản phẩm hiện đại. Người đào tạo ra con người có tri thức hiện đại đó chính là thầy giáo. Vấn đề đặt ra một cách nóng bỏng là Việt Nam đã có đội ngũ thầy giáo trong thế giới hiện đại chưa? Nếu chưa thì ngành giáo dục Việt Nam cần phải tập trung cải cách xây dựng đào tạo ra đội ngũ thầy giáo ấy.

1. Thầy giáo trong thế giới hiện đại

Cái chuẩn của con người hiện đại trong nền kinh tế tri thức là con người có bằng Đại học. Thầy giáo trong thế giới hiện đại là thầy dạy Đại học, ít nhất phải có đủ các tiêu chí như :

- Nắm vững phương pháp nghiên cứu khoa học, phương pháp sư phạm, dạy tích cực với những phương tiện và vật liệu mới;

- Có công trình nghiên cứu khoa học, giá trị, cập nhật;

- Thông thạo tối thiểu một ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh);

- Sử dụng thành thạo máy điện toán, qua máy điện toán tiếp cận thường xuyên với các nguồn thông tin tri thức mới nhất trên thế giới;

- Có đủ khả năng giao lưu, trao đổi, hợp tác với đồng nghiệp, với các Đại học trên thế giới .v.v.

Những tiêu chí của người thầy giáo trong thế giới hiện đại nầy không có gì ghê gớm, không có gì quá cao xa đối với trí thức Việt Nam. Trên bước đường sống bằng nghề cầm bút tôi đã gặp và biết nhiều người Việt Nam làm thầy thiên hạ (GS Nguyễn Văn Hiệu, GS Phan Ngọc, GS Cao Xuân Hạo, GS Hoàng Tụy, GS Dương Thiệu Tống, nhà nghiên cứu Lý Việt Dũng, GS Mai Quốc Liên, TS Nguyễn Thiện Tống.v.v.), và biết nhiều người không những trong ngành giáo dục mà cả trong các ngành văn học (Nguyên Ngọc, Hồ Anh Thái, Nguyễn Quang Thiều…), báo chí (Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức), khoa học kỹ thuật (Kỷ sư Bùi Hữu Lân), CNTT (Vũ Thế Bình) và nhiều ngành khác mà tôi không thể nào nhớ hết tên. Nếu tính luôn cả số thầy giáo người Việt ở nước ngoài vẫn tha thiết muốn đóng góp với giáo dục Việt Nam thì có thể kể đến hàng trăm người có tên tuổi. Ví dụ như Giáo sư Trần Văn Khê (Dân tộc nhạc học, Pháp), GS Lê Thành Khôi (Sử, Pháp), GS Nguyễn Thế Anh (Sử, Pháp), GS Võ Quang Yến (Hoá học, Pháp), GS Cao Huy Thuần (Công pháp Quốc tế, Pháp), TS Thái Kim Lan (Triết, Đức), GS Nguyễn Đăng Hưng (Toán, Bỉ), GS Trần Ngọc Ninh (Việt học, Mỹ), GS Trần Thanh Vân (Vật lý, Pháp), GS Trịnh Xuân Thuận (Thiên văn, Mỹ), GS Trần Chung Ngọc (Vật lý, Mỹ), GS Nguyễn Thuyết Phong (Dân tộc nhạc học, Mỹ), Giáo sư Võ Xuân Hân (Luật thương mại, Mỹ), Tiến sĩ Thu Trang Công Thị Nghĩa (Lịch sử, Du lịch, Pháp)…(Không thể nào kể hết trong một bài báo).

Thầy giáo, trí thức Việt Nam giỏi, hiện đại và đông đảo như vậy tại sao đến giờ nầy nền quốc gia giáo dục Việt Nam lại rơi vào khủng hoảng? Có thể trả lời vắn tắt và thẳng thắn rằng: Vì những vướn mắc của lịch sử liên quan đến chủ trương chính sách dùng người của Việt Nam nên những lực lượng hiện đại ấy chưa được tập hợp và sử dụng đúng mức tài năng của họ. Trong khi đó những người làm nên nền giáo dục đang bị khủng hoảng hiện nay là một lực lượng khác.

2. Thầy giáo Việt Nam, những hạn chế cần phải khắc phục

Qua tiếp xúc đời thường và qua tìm hiểu các thầy cô giáo của các con tôi, tôi thấy có những biểu hiện sau đây:

- Một số thầy hiện nay đang giữ những chức vụ chủ chốt, trong quản lý và trong các bộ môn chuyên môn phần lớn xuất thân từ thời “Chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm”, “ăn như sư, ngủ như phạm”. Nối tiếp sự nghiệp của họ là học trò của họ (tốt nghiệp Đại học trước thời Việt Nam đổi mới, 1986). Những thế hệ thầy giáo và học trò làm thầy giáo của họ thuộc loại 10+2, hoặc 10+3 về sau 12+3 (lớp 10 hoặc 12 học thêm 2 hoặc 3 năm), không học ngoại ngữ (trừ những người học trường ngoại ngữ), không học chữ Hán, lương rất thấp, đời sống kinh tế hết sức khó khăn, không có thì giờ học thêm, nghiên cứu khoa học, soạn giáo án mới, đầu óc tư duy cứng nhắc…(Có thầy giáo dạy văn học phương Tây mà không biết một ngoại ngữ nào). Số thầy giáo nầy đã và đang ngấp nghé hưu trí, không còn cơ hội đào tạo lại thành thầy giáo trong thế giới hiện đại;

- Số thầy giáo lưu dung ở miền Nam (loại 03), tuy được đào tạo chuyên môn kỹ hơn, nhưng sau 30.4.1975, được “tu nghiệp lại” cho khớp với cái khung ở miền Bắc đem vào, trở nên thụ động, không mấy người phát huy được khả năng của mình và đến nay hầu như cũng đã hưu trí;

- Lực lượng các thầy giáo đang nắm vận mệnh nền giáo dục trong tay đã tốt nghiệp Đại học sau năm 1975 (ở trong nước và một số nước ngoài, đặc biệt là ở Liên-xô cũ) cho đến thời đổi mới. Lực lượng nầy được đào tạo theo kiểu cũ duy ý chí mà phải gánh vác công việc dạy dỗ theo yêu cầu đổi mới nên xuất hiện nhiều diễn biến phức tạp như báo chí lâu nay đã viết và trong Ý tưởng 2 (báo Văn Nghệ số 38/2004) tôi đã đề cập qua. Những hiểu hiện không thể chấp nhận trong giáo dục xảy ra trong một bộ phận lực lượng nầy là: cần bằng chứ không cần tri thức, mua bằng, thuê người làm luận án, hối lộ cho thầy giáo. Một người làm ở báo Tiền Phong còn nói với tôi có trường hợp một cô giáo đã mua thêm bằng bằng “vốn tự có” của mình. Thực hư như thế nào tôi không khẳng định được, riêng tôi, tôi đã gặp nhiều cuộc người đi học chung tiền nhau mời thầy giáo đi nhậu, đi bia ôm, đi hát Karaoke và cả …để cho thầy vui lòng và cho điểm đậu. Khi nắm được học vị, học hàm rồi họ khai thác tối đa. Họ đòi hỏi chức quyền lương bổng như Ý tưởng 1 và 2 tôi đã viết. Riêng trong chuyên môn, họ xách cặp đi dạy búa xua, đi lãnh các dự án của nhà nước với tiền đầu tư hàng tỷ đồng. Dạy và làm tiền như thế, ăn nhậu như thế còn thì giờ đâu mà học thêm, nghiên cứu khoa học, tìm cái mới cập nhật để dạy cho sinh viên? Nhiều ông PGT-TS gởi bài đến các Toà soạn báo, tạp chí hoặc ban tổ chức Hội thảo khoa học những bản thảo viết tay hoặc bản vi tính do các cửa hàng dịch vụ đánh thuê. Nhiều người tỏ ra dị ứng với con chuột máy điện toán, xa lạ với Internet và e-mail. Đối với những “bậc thầy” dị ứng với tin học ấy, tôi không tin họ có thể cập nhật được tri thức, không tin họ có thể trở thành “thầy giáo trong thế giới hiện đại” được. Tuyển chọn “thầy giáo trong thế giới hiện đại” trong lực lượng nầy quả là một việc làm cực kỳ khó khăn;

- Lực lượng thầy giáo thuộc thế hệ sinh sau năm 1975, tốt nghiệp Đại học cuối thế kỷ XX được đào tạo gần sát với nhu cầu của nền kinh tế thị trường, biết ngoại ngữ, giỏi vi tính, nhiều người được đi học trên Đại học ở các nước có nền giáo dục hiện đại. Tuy nhiên, thấy giáo thuộc thế hệ nầy nói riêng, và trí thức của thế hệ nầy nói chung có nhiều điều đáng quan tâm: Ý thức dân tộc, hiểu biết lịch sử của họ kém, ngại hoạt động đoàn thể chính trị, những người giỏi đi làm cho nước ngoài để có lương cao hơn ít nhất là 5 đến 10 lần. Mai đây các trường Đại học quốc tế mở ra ở Việt Nam, những thầy giáo giỏi hiện nay sẽ được mời đến dạy, cuối cùng các Đại học công lập Việt Nam chỉ còn giữ chân được những thầy giáo “thứ cấp” yếu ngoại ngữ. Với chính sách dùng người chưa thoả đáng và lương bổng mỗi tháng trên dưới 100 USD như hiện nay, thì xu thế đó không thể không xảy ra. 

3. Những chủ trương vội vã làm hư đội ngũ thầy giáo

Dư luận trong và ngoài nước đã nhiều lần đề cập đến hiện tượng Việt Nam đã hoàn thành việc “vô hiệu hoá giá trị của học vị học hàm Việt Nam”. Chưa biết đến bao giờ mới phục hồi được chân giá trị của những học vị học hàm ấy. Trong lúc giáo dục đang khủng hoảng, chưa tìm được lối ra, chưa hình thành được một đội ngũ thầy giáo cho thời hội nhập thế giới hiện đại, nhiều trường Đại học ở TP HCM, Thủ đô Hà Nội kêu trời vì thiếu sinh viên thì vừa qua Chính phủ ký cho ra đời một loạt Đại học công lập ở khắp các địa phương. Chuyện gì sẽ xảy ra?

Các địa phương với vốn ngân sách và tiền vay ngân hàng một vài trăm tỷ có thể xây dựng được một cơ ngơi Đại học, khó nhưng có thể thực hiện được. Sinh viên ở các địa phương thay vì đến các trung tâm lớn  để học sẽ thi vào học tại các Đại học địa phương. Nhưng lấy ai dạy?

- Rút các người có học hàm học vị (thật và dỏm) ở các cơ quan ban ngành trong tỉnh về làm thầy giáo. Lực lượng hỗn hợp nầy vừa thiếu phương pháp sư phạm, vừa không đồng bộ khó có thể đảm đương được việc dạy dỗ cho một Đại học; vì thế địa phương phải:

- Mời các vị khoa bảng “thứ cấp” ở các nơi về bổ sung. Khoa bảng địa phương và khoa bảng “thứ cấp” không thể đào tạo được một lớp sinh viên có chất lượng. Vô lẽ các trường Đại học địa phương tự đào tạo cho mình một lớp người kém chất lượng, không đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá của địa phương hay sao? Muốn cho sinh viên của các Đại học địa phương cũng có chất lượng, buộc lòng các địa phương phải mời các vị khoa bảng có học thật ở các trung tâm lớn về dạy. Các vị học thật hiện nay đã dạy quá nhiều giờ, không còn thời gian để nghiên cứu, học hỏi, biên soạn giáo án mới, sắp đến phải đảm đương thêm việc dạy dỗ ở các Đại học địa phương nữa thì vô hình trung các Đại học địa phương trở thành “thủ phạm” gây nên sự xuống cấp của những thầy giáo giỏi.  

4. Tạo nguồn nhân lực dạy học cho Đại học

Bác Hồ từng dạy: “Muốn có chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghịa”. Ngày nay ta cũng có thể nói “Muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trước tiên phải có đội ngũ thầy giáo Đại học hiện đại”. Thầy giáo Đại học là cái “máy cái” định đoạt sự tiến bộ của mọi thời đại, đặc biệt trong thời đại hướng về nền kinh tế tri thức hiện nay.  Từ lâu ở các nước, người ta đã tạo nguồn nhân lực cho Đại học bằng các cách: Tuyển lựa và đào tạo trong nước; gởi sinh viên đi học nước ngoài, mời các giáo sư nước ngoài đến dạy. Theo tôi với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, ngoài các cách vừa nêu, còn có thể nghiên cứu bổ sung nhiều cách khác nữa.

Cách thứ nhất: Mời các thầy giỏi vừa về hưu, nếu còn sức khoẻ tiếp tục truyền đạt cho sinh viên những gì mình còn thủ đắc như một số  Đại học đang thực hiện;

Cách thứ hai: Theo kiểu tạo nguồn hướng dẫn viên du lịch trước đây, là mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, những ai có kiến thức chuyên môn, có ngoại ngữ, có ngoại hình, được thu nhận vào học. Sau lớp bồi dưỡng tổ chức thi, ai đậu được phát chứng chỉ hướng dẫn viên du lịch (loại địa phương, loại quốc gia). Chứng chỉ có giá trị hành nghề trong một thời gian nhất định (2, 3 hoặc 4 năm). Tôi đã gặp trong các lớp nầy có cả Cựu khoa trưởng Đại học, trưởng Phòng Văn hoá thông tin, thầy cô giáo trung học. Nếu ngành giáo dục có tiêu chí rõ ràng, tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và tổ chức thi lấy thầy giáo công nhật chắc chắn sẽ tìm được hàng trăm thầy giáo giỏi dạy giờ cho các Đại học;

Cách thứ ba: Mời những người đã thành danh vào dạy Đại học. Ở miền Nam trước đây có những thầy giáo dạy Đại học mà không xuất thân khoa bảng, không có học hàm học vị như các thầy Vương Hồng Sển (văn minh Việt Nam), Trương Văn Chình (Ngữ học), Lê Ngọc Trụ (Việt ngữ chính tả), Bửu Cầm (Hán Nôm, Sử), Phan Văn Dật (thơ văn), Nguyễn Đình Hàm (Quản trị học đường), Phạm Kim Âu (Pháp văn)... Các thầy có nhiều công trình nghiên cứu uyên bác và đã được giới trí thức khoa học gọi là học giả (érudit). Các học giả nầy đã đào tạo biết bao lớp khoa bảng mà ngày nay chế độ ta vẫn còn trọng dụng như Nguyễn Khuê, Phan Thuận An, Nguyễn Văn Chưởng, Nguyễn Q. Thắng, Bửu Nam v.v. Trong xã hội ta hiện nay không dùng danh xưng học giả nhưng có biết bao người có trình độ học giả. Nếu mời nhà văn Nguyên Ngọc vào Đại học dạy văn học, mời nhà văn Trần Mạnh Hảo dạy phê bình văn học, mời Lý Việt Dũng vào dạy Hán Nôm, mời Lê Mạnh Thát vào dạy Văn học Lý Trần có lẽ sinh viên sẽ rất thích thú và chắc chắn sẽ có nhiều người làm “đệ tử” thừa kế sự nghiệp của các vị ấy. Với cách thức ấy ta có thể tìm được hàng trăm thầy giáo giỏi trong các Bộ, các sở, các viện, các địa phương. Các vị “tại chức” ấy vừa tiếp cận thực tế hàng ngày vừa tranh thủ dạy Đại học góp phần đào tạo nên những lớp kế cận giỏi lý thuyết và sát thực tế.      

Cách thứ tư: Trong mấy chục năm qua tiếp xúc với bạn bè, bà con Việt Kiều ở các nước về thăm nhà hoặc về du lịch tôi biết được nhiều vị Giáo sư nước ngoài muốn quan hệ cộng tác với ngành giáo dục Việt Nam, nhưng rất ít người thành công. Có người than phiền một cách chua chát rằng hình như ở Việt Nam người ta cần bằng cấp ngoại, cần Đô-la hơn là cần chất xám, cần trí thức. Theo tôi đó là chuyện có thể có trước đây, còn bây giờ tình hình đã khác. Nếu bộ GDĐT có chủ trương mời Giáo sư Việt kiều về dạy (những môn Việt Nam đang cần) có thể nhờ các Hội Việt kiều yêu nước ở các nước tìm người, tổ chức và cử về dạy từng đợt với thù lao theo khả năng tài chánh của Việt Nam. Các thầy giáo Đại học của Việt Nam ở khắp nơi nên thế giới, giỏi chuyên môn, thông thạo các sinh ngữ Anh, Pháp, Đức, Nhật, Nga, Trung Quốc, Ý, Tây Ban Nha..là một cái vốn rất quý nhưng chúng ta chưa khai thác được bao nhiêu. Nếu bây giờ nhà nước có chính sách sử dụng chất xám của Việt kiều đúng mức (như NQ 36 BCT), Việt Nam sẽ được bổ sung một lực lượng thầy giáo hiện đại đáng kể;   

Cách thứ năm: Nhà nước chủ trương cho mở Đại học tư là đúng với xu thế phát triển Đại học của thế giới. Đại học tư đó thành công hay thất bại là tùy thuộc vào chất lượng “sản phẩm” của họ có đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động thời hội nhập thế giới hiện đại hay không, tùy họ. Nhà nước chỉ thông qua chương trình đào tạo còn nguồn nhân lực chính thức của họ, các Đại học tư phải tự đào tạo, tự tìm lấy. Cấm các Đại học tư sử dụng nguồn nhân lực của Đại học công làm nguồn nhân lực chính của mình. Để tránh tình trạng thầy giáo công phục vụ cho con buôn giáo dục Đại học, các thầy giáo chính thức của Đại học công được cấp lương bổng hợp lý với quota giờ dạy (giờ chuẩn) nhất định. Nếu dạy ở trường công chưa hết số giờ qui định có thể dạy cho các Đại học tư, nhưng không được vượt số giờ qui định, để dành thì giờ thích đáng cho việc nghiên cứu. Ai vi phạm sẽ bị kỷ luật. Người thầy giáo Đại học bị kỷ luật không được dạy ở bất cứ trường Đại học nào trong một thời gian nhất định. Phải chủ trương khắt khe như thế để buộc các Đại học tư phải gồng mình gởi người đi đào tạo, mời học giả, mời các thầy giáo định cư ở nước ngoài về giảng dạy cho mình. Làm được như vậy các Đại học tư cũng có công trong việc cùng với nhà nước lo bổ sung nguồn thầy giáo Đại học cho đất nước.

Thực hiện việc tìm thầy giáo giỏi cho Đại học cần lưu ý tâm lý  kèn cựa, chèn ép người giỏi. Tâm lý “ít ngài dài đũa”, các Đại học muốn độc quyền dạy dỗ, không muốn chia xẻ quyền lợi với người khác nên đóng cửa với người giỏi bên ngoài. Một số nơi còn sợ người bên ngoài dạy giỏi hơn, đưa người giỏi vào sẽ tạo điều kiện cho sinh viên thấy được cái yếu kém của họ. Tôi biết có chị TTND - một người cựu nữ sinh Đồng Khánh, nổi tiếng học giỏi, học đứng đầu lớp, thi Tú tài đứng đầu toàn miền, có học bổng của Pháp sang Pháp học Tiến sĩ về Địa lý, tham gia các phong trào yêu nước, sau năm 1975 dạy học tại ĐHSP TP HCM, đại diện cho giới nữ làm khoa học ở TP HCM đi dự các hội thảo quốc tế, được mời đi dạy ở các nước châu Âu. Thế nhưng chị không được phong Phó giáo sư vì lẽ Việt Nam không công nhận bằng Tiến sĩ Đệ tam cấp của chị. Trong lúc đó nhiều học trò của chị đã là Thạc sĩ, Tiến sĩ, Phó GS  sư từ lâu. Không có học hàm Phó Giáo sư chị phải từ giã trường Đại học công, trở về về làm việc cho các tổ chức quốc tế, lương cao hơn gấp nhiều lần, nhưng vẫn không hết ngậm ngùi. Có người bảo chị phải “chạy” hoặc kiện lên Bộ, chị cười và bảo: “Như vậy thì còn ra cái thể thống gì nữa!”. Đây là chuyện có thật 100%, một bậc thầy của các bậc thầy mà còn bị thất thế đến như thế, huống chi …

Ai có đủ tư cách, đạo đức, chuyên môn để đứng ra làm cái việc tạo nguồn thầy giáo Đại học nêu trên? Với tư cách là một người cầm bút quan tâm đến giáo dục, tôi cầu mong các ngành chức năng trả lời hộ.

Nếu Việt Nam hình thành được một đội ngũ thầy giáo Đại học  đáp ứng được các yêu cầu của thời hội nhập thế giới hiện đại thì chúng ta có thể đi qua được quá nửa con đường cải cách giáo dục hiện nay.

Huế, đầu tháng 10/2004

Nguyễn Đắc Xuân

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
 
Các bài Giáo dục khác