Ý tưởng 6: Dạy, học và thi như thế nào?
Chuyện dạy, học và thi là chuyện xưa như trái đất. Tuy nhiên, dù xưa nhưng vẫn phải đề cập đến bởi vì ba chuyện ấy luôn phải được đổi mới cập nhật để thích hợp với thời đại mới. Nếu không đổi mới kịp thời không đào tạo được con người mới đáp ứng các yêu cầu mới, toàn bộ các hoạt động khác của xã hội sẽ tụt hậu.

1.Dạy

Ở các nước có nền Đại học hiện đại, việc thầy giáo đọc bài cho sinh viên chép đã bãi bỏ từ lâu. Cách đây trên 40 năm, tôi học Đại học Văn khoa và Đại học Sư phạm Huế, đến lớp chỉ nghe thầy giảng, sinh viên phải tự tìm cho mình một phương pháp “tốc ký” để ghi bài. Những đoạn trích dẫn ghi không đúng nguyên văn thì thầy chỉ cho nguồn trong các sách, tài liệu, sinh viên tự đến thư viện tìm và ghi lấy. Qua bài giảng sinh viên tự rút ra các thông tin mới, những nhận thức mới và phương pháp phát hiện, phương pháp nghiên cứu và trình bày những vấn đề tương tự. Trong lúc học thầy giáo và sinh viên tranh luận sôi nổi, nhiều khi rất căng thẳng. Về văn học, nhiều thầy bình giải bằng triết học hiện sinh và sinh viên lại thấm nhuần tư tưởng Phật giáo, về sử thầy nhìn với cách nghĩ của Thiên chúa giáo, sinh viên có thể thích theo quan điểm Mác-xít…Ý kiến thầy trò chênh nhau, nhưng không sao. Cuối năm thi lấy chứng chỉ (Văn khoa) hoặc lên lớp (Sư phạm) với một đề thi với nội dung có khi chưa được nghe thầy dạy bao giờ. Thầy chấm bài căn cứ trên tiêu chí sinh viên có hiểu đề bài không, có trình bày ý kiến của sinh viên mạch lạc không, có đúng phương pháp không. Bởi thế khi sinh viên ra trường có con mắt nhìn thấy nhiều vấn đề và tin mình có khả năng giải quyết vấn đề. Mỗi người tự “thắp đuốc” (nói theo kiểu nhà Phật) tìm ra con đường gây dựng sự nghiệp cho mình. Chính nhờ tinh thần tự lập của sinh viên Đại học ấy mà nẩy ra Phong trào đấu tranh yêu nước chống Mỹ Ngụy của sinh viên học sinh các đô thị miền Nam trước năm 1975.

So với thời tôi đi học, phương tiện dạy và học Đại học ngày nay (như tôi biết ở Pháp và TP HCM qua các con tôi), dồi dào không thể tưởng tượng được. Bài giảng thầy soạn bằng vi-tính, đến lớp thầy cho mượn đem xuống dịch vụ của văn phòng nhà trường photocopy tự do. 5 trang A4 chỉ bằng một điếu thuốc 555 (một ngàn đồng VN). Suốt giờ học chỉ nghe thầy giảng và tranh luận. Những người không đến lớp được nhờ bạn ghi âm bài giảng cùa thầy đem về nhà nghe lại. Một sinh viên học ở Pháp làm bài tập bằng tiếng Anh (những môn do thầy Mỹ dạy) có thể dùng e-mail nhờ tìm tư liệu tại thư viện Quốc Hội Mỹ, và nhờ bạn ở TP HCM chữa lỗi tiếng Anh trong bài tập. Thời gian chỉ mất vài ba ngày và phí tổn trao đổi e-mail chỉ bằng giá nửa cục xôi (một ngàn đồng VN).

Kiến thức cơ bản sinh viên đã được học ở trường Trung học. Ở Đại học muốn tìm hiểu sâu hơn và đầy đủ hơn, sinh viên có thể tìm hiểu qua các bộ đĩa từ điển Encyclopédie Encarta, Britanica, Larousse, trên hàng ngàn trang Website (Internet) bằng đủ thứ tiếng Anh, Pháp, Việt, Trung v.v. về tất cả các môn học xã hội, tự nhiên, kỹ thuật, tin học. Ví dụ như các trang tiếng Việt:http://www.leaf-vn.org/ (hỗ trợ thư viện và giáo dục Việt Nam), www.viethoc.org (Nghiên cứu văn học cổ và lịch sử Việt Nam), www.nomfoundation (Bảo tồn di sản Hán Nôm) .v.v. Tất cả các Đại học trên thế giới đều có Website, thông tin cập nhật hằng ngày. Website MIT của Viện kỹ thuật trường Đại học Massachusetts (Massachusetts institute of technology), ngoài các khoá học (Courses) dạy 500 môn học trên thế giới để cho sinh viên tự chọn mà còn dạy cho sinh viên cách ghi chép, nghiên cứu, trình bày nội dung một bài tập. Bạn đọc cứ click vào địa chỉ http://ocw.mit.edu/index.html trên máy điện toán có nối mạng thử coi. Phong phú, thú vị vô cùng. Chỉ sợ không đủ trình độ tiếng Anh và thời gian để mà đọc, mà học thôi. Đối với các cháu đang ngồi vọc Computeur ở các quán Internet dọc các phố, chuyện click vào các trang giáo dục quốc tế ấy dễ hơn ném đồng xu vào lỗ đáo. (Chỉ tiết là dễ dàng như thế nhưng ít đứa chịu tìm học mà lại tìm Click vào những Website sex hoặc bạo lực). Công nghệ thông tin - đối với người ham học, quả là ông thầy Đại học vĩ đại nhất của nhân loại hiện nay. Một sinh viên có thể ngồi ở nhà học qua Internet có đủ trình độ đi thi lấy bằng Đại học, có thể tham khảo để viết những công trình khoa học đăng trên bất cứ tạp chí có giá trị nào trên thế giới. Tuy nhiên, sinh viên vẫn phải đến học ở các Đại học. Đến để được học kỹ năng thực hành, tiếp thu những khám phá mới của thầy giáo chưa từng đưa lên mạng, hoặc đưa mà không đầy đủ. Cái mới đó là bảo bối của mỗi Đại học, mỗi thầy giáo. Sinh viên được dạo chơi trên hành lang tri thức rộng mở như thế, óc sáng tạo luôn bị kích thích giúp cho sinh viên tự tìm cho mình một hướng đi độc đáo đủ sức cạnh tranh trong thị trường luôn hướng về tri thức mới hiện nay. 

Vì thế dạy Đại học cho thế hệ @ bây giờ là dạy cho sinh viên công trình nghiên cứu mới của giáo sư, qua đó dạy cho sinh viên phương pháp học, phương pháp tự học, học tự định hướng (self oriented learning), phương pháp nghiên cứu thực tế, phương pháp tìm tư liệu trên Internet, phương pháp trình bày ý tưởng của mình, phương pháp liên hệ với thực tế hoặc đưa sản phẩm trí tuệ của mình vào cuộc sống. Nếu thầy giáo không đủ khả năng thực hiện việc dạy dỗ như thế chắc chắn sẽ bị sinh viên qua mặt và từ chối học với các thầy giáo Đại học lạc hậu ấy.

Những gì tôi viết trên đây tuy chưa phổ cập, nhưng không còn xa lạ với sinh viên tại TP HCM (Có lẽ ở Hà Nội cũng thế). Nhiều sinh viên xuất thân trong các gia đình còn cọc cạch với chiếc xe đạp, chưa trang bị được Computeur (loại tân trang chừng 2 triệu đồng) thì có thể dùng Computeur của nhà trường, của các thư viện điện tử hoặc của các cửa hàng dịch vụ Internet (mỗi giờ tốn 3 ngàn đồng). So với học phí các lớp học thêm, tiền học qua Computeur công cộng quá rẻ. Nhiều sinh viên gia đình rất nghèo, chưa từng có Computeur riêng, nhưng vừa học xong bằng Computeur công cộng, liền được các Công-ty nước ngoài mời đi làm việc ngay.

Các Đại học ở các địa phương kiểm tra thử xem trong đội ngũ thầy giáo của quý trường còn có những ai vẫn còn xa lạ với cách dạy thế hệ @ như trên không? Nếu vẫn còn những người ấy đứng lớp đọc bài cho sinh viên chép thì thử hỏi sinh viên của quý trường sẽ đóng góp được gì cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay?

Chỉ cần một sự khảo sát nhỏ ấy thôi cũng có thể biết được sự chênh lệch giữa thầy giáo các Đại học ở TP HCM, Hà Nội và các địa phương khác, giữa các thầy giáo  Đại học Việt Nam và thầy giáo các Đại học trong khu vực (chưa nói đến thế giới) ra sao rồi. Bao giờ chưa có biện pháp khắc phục độ chênh lệch đó thì hãy suy tính kỹ trước khi ký quyết định cho mở tràn lan các Đại học địa phương. Có thể dùng xi-măng kém phẩm chất của các Nhà máy xi-măng lò đứng xây lát đường làng, ngõ xóm, có thể dùng đường kém phẩm chất của các nhà máy đường các địa phương mua của Trung Quốc trước đây bán cho lò nấu kẹo đậu phụng, nhưng các cử nhân-kỹ sư thứ cấp xuất thân từ các Đại học địa phương mới ngang tầm Trung học cấp 4 thì dùng vào việc gì? Chắc chắn họ không chịu làm thợ mà muốn xin làm thầy thì không ai nhận. Ai chịu trách nhiệm về các sản phẩm giáo dục Đại học thứ cấp đang thất nghiệp ấy?  Các thầy giáo Đại học nghĩ sao?    

2. Học

Học là một nhu cầu của con người, mang tính nhân văn, ở cấp thấp. Học còn chi phối bởi động lực xã hội, ở cấp cao. Ngày xưa cha ông chúng ta học để đi thi, để đỗ đạt ra làm quan, để được hơn người. Thời Pháp thuộc, học để đi làm cho Pháp, hoặc ngược lại, học để thi đỗ ra làm cách mạng (Những người khoa bảng đồng bào mới nghe). Thời sinh viên của chúng tôi, tùy hoàn cảnh từng người: học giỏi để có học bổng, có lương cao, có vợ đẹp, học để được ưu tiên chọn nhiệm sở, học để khỏi bị bắt lính, học giỏi để có uy tín với sinh viên để lãnh đạo phong trào đấu tranh yêu nước của sinh viên.v.v.

Ngày nay, đề cập đến động lực học hơi phức tạp: Bọn con ông cháu cha (như Mai Thanh Hải - con trai của thứ trưởng bộ Thương mại Mai Văn Dâu), không cần học giỏi cũng có bằng, có bằng là có chỗ làm việc tốt, hợp thức được chức vụ béo bở trong bộ máy nhà nước; những sinh viên con nhà nghèo, con nhà không có nơi dựa dẫm, có học giỏi cũng không được giữ lại trường, không được chọn nhiệm sở gần thành phố, cũng không có lương cao (bác sĩ ra trường lương chỉ có 350.000Đ), cố gắng học giỏi làm gì cho khổ; ngược lại có một số sinh viên giỏi phấn đấu học thêm vi tính và Anh văn để đi làm cho nước ngoài hoặc đi học trên Đại học ở nước ngoài.

Bao giờ nhà nước Việt Nam chưa có chính sách sử dụng người tài một cách đúng đắn, chưa quan tâm đến động lực học (qui luật khách quan) của sinh viên thì công cuộc cải cách giáo dục sẽ khó thành công.

Dư luận lâu nay phê phán chuyện dạy thêm, học thêm. Trong nền kinh tế thị trường, chuyện dạy thêm hay mở trường tư là một ngành dịch vụ thương mại béo bở. Dịch vụ thương mại nầy hình thành bởi sự hợp tác của cán bộ lãnh đạo ngành giáo dục, các thầy giáo trong ngành giáo dục và doanh nhân. Chống dạy thêm, học thêm chỉ là ngắt cái ngọn, cái gốc vẫn còn đó, cái ngọn nầy bị ngắt, cái mầm khác sẽ nứt ra. Một ông Giám đốc sở Giáo dục ở tỉnh T. đi đâu cũng la toáng lên chuyện học thêm dạy thêm, nhưng bên trong ông lại cho lập Trung tâm bồi dưỡng thi Đại học do chính vợ ông chủ trì. Muốn chống dạy thêm học thêm phải xét đến nhiều mặt và giải quyết từng mặt, từ chương trình giáo dục, thời gian lên lớp, trình độ giáo viên, lương giáo viên, quản lý giáo viên, âm mưu làm giàu của những cán bộ giáo dục bất chính, tâm lý muốn con học giỏi của các bậc phụ huynh.v.v.

Theo tôi, chỉ có dạy chứ không có chuyện dạy thêm. Dạy tốt là có đóng góp cho xã hội. Một thầy giáo nhà nước giỏi được dạy một số giờ chuẩn (như tôi đã nêu trong Ý tưởng 5). Tại trường của ông chưa sử dụng hết số giờ chuẩn ông có quyền đi dạy ở bất cứ nơi đâu để truyền đạt tri thức của ông cho lớp trẻ. Nếu ai dạy quá số giờ chuẩn sẽ bị nhà trường phạt (giống như chuyện Công an bấm lỗ bằng lái của các tài xế phạm luật). Nếu thấy việc dạy cho nhà nước thu nhập thấp, thầy giáo đó có thể xin nghỉ, hoàn trả lại tiền đào tạo cho nhà nước và không được lĩnh lương hưu theo thâm niên. Sinh viên cũng cần học thêm. Trừ sinh viên ngoại ngữ, những sinh viên Việt Nam, xuất thân nông dân, người lao động ở đô thị, trình độ ngoại ngữ học ở trường không đủ để tiếp cận với thông tin thế giới qua sách báo và Internet. Vì thế khi tiếng Anh chưa phổ cập từ tiểu học lên Đại học (như các nước thuộc địa cũ của Anh như Ấn Độ, Mã-lai, Tân-gia-ba…), thì sinh viên Đại học phải đi học thêm vi tính và ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh) là chuyện cần thiết. Không học thêm Anh văn làm sao sinh viên có bằng Toefl, Toeic, Sat…để có đủ điều kiện đi học sau Đại học ở Mỹ, ở Úc, hoặc đi làm trong các cơ sở kinh tế liên doanh với nước ngoài? Vấn đề cần quan tâm ở đây là học thêm môn gì? Học ở đâu? Ai được phép dạy? Chúng ta cứ nhìn chung quanh thử xem: những vị có trách nhiệm trong chính quyền hiện nay (đặc biệt trong ngành giáo dục) nếu không chịu học thêm (đặc biệt là ngoại ngữ) thì họ sẽ làm được gì trong nền kinh tế thị trường, hội nhập thế giới hiện đại nầy?  Một ông Giám đốc Đại học khi làm việc với nước ngoài mà vẫn kè kè hai bên hai người phiên dịch (Anh, Pháp) thì tôi nghi Đại học đó còn lâu mới hội nhập được với thế giới. Nếu không có nơi dạy thì làm sao ông Giám đốc Đại học đó học thêm ngoại ngữ để hội nhập ?

3. Thi

Tổ chức thi cử của Việt Nam hiện nay đang làm đau đầu nhiều giới, tốn kém vô cùng, mất thì giờ hết sức, hậu quả tìm không được bao nhiêu người tài, người có đủ khả năng làm việc theo yêu cầu của xã hội mà lại tạo nên một đội ngũ thất nghiệp, dở thầy dở thợ, để lại một gánh nặng cho gia đình và xã hội. Người dân quan tâm đến giáo dục rất lo lắng cho tương lai con em của mình.

Chuyện thi cử cả thế giới đã có kinh nghiệm, đã hình thành công nghệ thi cử hết sức tinh vi, công nghệ đó đăng tải rộng rãi trên các trang Web. Việt Nam hội nhập thế giới cả hàng chục năm nay, viện nghiên cứu Giáo dục VN có hàng trăm chuyên viên, CNTT Việt Nam rất xuất sắc, tại sao đến giờ nầy chúng ta vẫn còn mò mẫm trong mớ bòng bong thi cử hằng năm như thế? Thật là một điều khó hiểu.

Có người nói nhỏ với tôi: Nền giáo dục VN hiện nay là nền giáo dục bao cấp của Liên-xô cũ có cải tiến một số bộ phận trong cố gắng làm sao phù hợp với yêu cầu của thời kỳ đất nước hội nhập với thế giới có nền kinh tế thị trường. Không thể có một nền giáo dục bao cấp cải tiến đào tạo ra được những trí thức làm việc cho một xã hội với nền kinh tế thị trường. Có lẽ đó là nguyên do đẩy nền giáo dục Việt Nam hôm nay rơi vào khủng hoảng chăng?

Tôi được biết, nhà nước có kế hoạch đào tạo theo chỉ tiêu, đại khái như năm 2005 phải đào tạo n ngàn Cử nhân, r ngàn Thạc sĩ, s ngàn Tiến sĩ, phong y ngàn Phó giáo sư, phong z ngàn Giáo sư; năm 2010 phải…, năm 2020 phải …để có tỷ lệ bằng cấp/trên số dân ngang với các nước trong vùng, trong khu vực v.v. Tôi không được nghe Bộ có những biện pháp làm sao ngay bây giờ dạy cho r, s, y, z nhà khoa bảng ấy có trình độ tri thức ngang với trình độ trí thức của các nhà khoa bảng trong vùng, trong khu vực, không nghe nói đến việc làm sao sử dụng cho hết những Cử nhân Kỹ sư mới được đào tạo hằng năm, không nghe nói đến biện pháp làm sao nâng lương cho các nhà khoa bảng Việt Nam ngang với lương của những người cùng bằng cấp trong khu vực? Tôi chỉ thấy Bộ cho mở Đại học tràn lan để kịp thời đào tạo, phát bằng hoàn thành các chỉ tiêu bằng cấp Đại học, trên Đại học mà thôi. Điều nầy làm cho tôi nhớ lại (cũng mới đây thôi) các nhà máy quốc doanh thi đua sản xuất để hoàn thành các chỉ tiêu, năm sau cao hơn năm trước. Sản phẩm của nhiều nhà máy kém phẩm chất bán không được, chất đầy kho lẫm, công nhân không có lương. Nay phải giải thể nhà máy hoặc cổ phần hoá các nhà máy ấy. Hàng hoá kém phẩm chất bán không được chất đầy trong kho, ai cũng có thể thấy được và rồi tìm cách bán rẻ để tẩu tán. Còn sinh viên tốt nghiệp với trình độ “thứ cấp” không tìm được việc làm, sống trong dân, không ai thấy cái khối to lớn ấy cả, và do đó cũng không ai chịu trách nhiệm “tiêu thụ” số thất nghiệp đó cả. Xin hỏi Bộ GDĐT, Bộ đã điều tra thống kê để biết hiện nay còn bao nhiêu vạn sinh viên chưa có việc làm không? Chỉ tiêu thất nghiệp như thế đã đủ chưa hay Bộ còn phải xin ngân sách tổ chức thêm nhiều kỳ thi nữa để bổ sung cho đủ chỉ tiêu thất nghiệp?  Bộ có trách nhiệm đến đâu về số vạn người thất nghiệp có bằng Đại học ấy?

Phương pháp sư phạm / giáo dục là tìm cách đơn giản mọi rắc rối, mọi phức tạp để dễ truyền đạt. Vấn đề thi cử để chọn người vào Đại học nên chăng chỉ cần chủ trương một cách đơn giản là hằng năm:

- Chọn những học sinh có ba năm học Phổ thông và bằng Tú Tài  thuộc loại khá giỏi cho thi vào các Đại học chính qui;

- Số học sinh còn lại có thể ghi danh vào học hệ Đại học tự do (cũng của nhà nước); hoặc

- Thi vào học các Đại học tư hoặc thi vào các trường Cao đẳng. Các trường Đại học tư và trường Cao đẳng tự tổ chức thi lấy người vào học.

Thi trắc nghiệm, chấm bằng máy: nhanh, ít tốn kém, chính xác và hạn chế được tiêu cực. Nền giáo dục của Hoa Kỳ tiên tiến nhất thế giới đã áp dụng thi trắc nghiệm cả thế kỷ qua, nhiều nước châu Âu đã có nền giáo dục Đại học cả trăm năm vẫn phải bắt chước Mỹ, tại sao ta không học tập họ?

Chủ trương thi như thế buộc những học sinh muốn vào Đại học chính qui để làm việc cho nhà nước thì phải cố gắng học giỏi ít nhất từ lớp 10 THPT. Những học sinh có bằng Tú tài không đạt được những tiêu chí trên yên tâm khỏi thi vào trường chính qui mà đợi ghi danh vào học Đại học Tự do. Đại học Tự do năm đầu là năm Dự bị như Dự bị Toán (MG), Dự bị Lý Hoá Sinh (PCB); Dự bị Văn khoa (Triết, Văn, Sử Địa, Ngoại ngữ).v.v.Cuối năm thi (trắc nghiệm) lấy Chứng chỉ (Certificat) Dự bị. Sau chứng chỉ Dự bị ai đỗ thêm 4 chứng chỉ nữa thì được phát bằng Cử nhân. (Sinh viên vừa đi học vừa đi làm, một năm có thể ghi danh học 2 chứng chỉ). Lại có hai loại cử nhân: Cử nhân Giáo khoa gồm CCDB + 4 Chứng chỉ bắt buộc (Ví dụ Cử nhân Giáo khoa văn chương gồm 1 CC Văn học VN, 1 CC Ngữ học, 1 CC Hán văn, 1 CC Phương pháp sử hay Phương pháp Triết học), Cử nhân Tự do gồm 1 CCDB và 4 CC tự chọn. Sinh viên Đại học tự do phải trả học phí, nhà nước cấp học bổng cho sinh viên nghèo mà học giỏi và  sinh viên ở vùng sâu vùng xa. Những sinh viên đậu Chứng chỉ Dự bị được thi vào năm thứ nhất các Đại học chính qui. Các Cử nhân Giáo khoa có thể được thu nhận vào làm việc cho cơ quan nhà nước, các Cử nhân tự do tự tìm chỗ làm.

Các Đại học chính qui chỉ đào tạo những ngành mũi nhọn hoặc những ngành nhà nước cần như trường Sư phạm đào tạo thầy giáo các cấp; trường Khoa học nhân văn và khoa học tự nhiên đào tạo các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu chuyên sâu về văn, sử, địa, về các ngành khoa học cơ bản (sinh học, vật lý, hóa học, toán v.v...); trường Quốc gia hành chánh (đào tạo công chức từ cấp Phường xã lên đến Trung ương, trước mắt phục vụ công cuộc cải cách hành chánh của Chính phủ); trường Ngoại giao, trường Ngoại thương (rất cần thiết khi VN vào WTO), trường Luật khoa (đang rất thiếu Luật sư, Thẩm phán, Cố vấn pháp lý cho các cơ sở kinh tế văn hoá giáo duc); trường Y Nha Dược; trường Kiến trúc; trường Bách khoa đào tạo Kỷ sư các loại (nông nghiệp, xây dựng, chế tạo máy..); trường An ninh; trường Quốc phòng .v.v.    

Các Đại học tư đào tạo nguồn nhân lực cao cấp thoả mãn yêu cầu của thực tế xã hội như các ngành ngoại ngữ, công nghệ, tin học, thương mại, kế toán, tài chính ...và tất cả các ngành khác mà Đại học công không có; 

Sinh viên Đại học tư thục tự tìm việc làm, và làm việc theo hợp đồng như qui định chung của nhà nước, khi về già vẫn có hưu.

Nếu tổ chức 3 loại Đại học và thi tuyển như vậy thì hằng năm VN sẽ tiết kiệm được hàng triệu giờ làm việc của thầy cô giáo, dôi thừa được hàng chục tỷ đồng tiền công quỹ. Số tiền nầy dành để nâng lương cho thầy giáo và phát học bổng cho sinh viên nghèo thuộc vùng sâu vùng xa. Các thầy giáo khỏi bận vào việc đi coi thi, đi chấm thi có điều kiện thời gian đi nghỉ hè, nghiên cứu khoa học, viết sách.       

*

*     *

Dạy, học, thi là ba khâu quan trọng nhất trong bất kỳ nền giáo dục đông tây kim cổ nào. Tôi chỉ là một người cầm bút ở địa phương, xa cách môi trường giáo dục đã gần 40 năm, tôi không dám nghĩ mình có được ý kiến gì mới để góp với những người có trách nhiệm trong công cuộc cải cách giáo dục trong các khâu dạy, học và thi. Tôi viết ý tưởng thứ 6 nầy chỉ để nói lên một điều: Dư luận không chỉ rặt một chiều phê phán nền giáo dục của đất nước hiện nay mà còn có nhiều gợi ý giải pháp tháo gỡ. Những gợi ý tháo gỡ của tôi có thể đã lạc hậu, nhưng nếu những người có trách nhiệm biết tổ chức tham khảo ý kiến của những người quan tâm giáo dục (ngoài ngành giáo dục) ở Trung ương và địa phương, ở trong và ngoài nước, chắc chắn sẽ thu lượm được nhiều gợi ý giải pháp tháo gỡ hữu ích. Còn như quý vị cứ quanh quẩn với những người trong cái ngành giáo dục đặt hình thức (học vị, học hàm) lên trên tri thức thì không bao giờ quý vị tìm được giải pháp thích đáng nào cả.

Huế, 8 tháng 10/2004

Nguyễn Đắc Xuân

 

 

 

 
 
Các bài Giáo dục khác