Ý tưởng 7: Môi trường sống và giáo dục
Ý tưởng 5 và 6 đề cập đến điều kiện cần (thầy giáo). Ý tưởng 7 xin nói về một số điều kiện đủ - chỉ một số thôi, vì trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay làm sao đề cập hết được.

1.Môi trường gia đình

Ngạn ngữ có câu: “Không thầy đố mầy làm nên”. “Thầy” có nghĩa là người có trình độ hướng dẫn dạy bảo. Theo nghĩa ấy, không đợi đến lúc đi học đứa trẻ mới được học với thầy mà ngay khi còn ở nhà đứa trẻ đã được cha mẹ dạy. Lúc đi học về nhà lại được cha mẹ chăm sóc việc học, hướng dẫn làm sao học cho tốt, hoặc bổ túc cho những chỗ đứa trẻ chưa nắm vững ở trường học. Đặc biệt các em xuất thân trong các gia đình mà cha mẹ làm nghề giáo, các em còn được hưởng cái phong cách và tri thức của cha mẹ như Lê Bá Khánh Trình, Lê Tự Quyết Thắng và hàng trăm em thành đạt xuất sắc xuất thân trong các gia đình nhà giáo khác ở Huế. Bất hạnh cho những đứa trẻ sinh ra trong những gia đình cha mẹ quá bận việc chính quyền, đầy quyền thế, giàu có không cần đến việc học, hoặc cha mẹ quá lo việc kinh doanh, hoặc đi làm ăn xa, hoặc quá lam lũ lo cho cuộc sống, hay mù chữ …không chăm sóc dạy dỗ được con cái. Những đứa trẻ ra đời trong những hoàn cảnh gia đình như thế ít có em thành đạt trên con đường học vấn.

Hoàn cảnh gia đình tác động rất mạnh đến chuyện học hành của con cái, nó giữ một vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhân tài. Trước khi học với thầy giáo, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Nguyễn Sinh Cung (sau nầy là Chủ tịch Hồ Chí Minh)…đã được học với mẹ. Sự giáo dục của gia đình, của cha mẹ ảnh hưởng suốt đời người con. Rất tiếc trong công cuộc cải cách giáo dục ngày nay, việc nghiên cứu vai trò của gia đình đối với giáo dục ít khi được đề cập đến một cách xác đáng. 

2. Xã hội và thời đại 

Ngoài tác động của hoàn cảnh, môi trường trong gia đình, tuổi trẻ còn chịu tác động bởi nhiều yếu tố ngoài đời, yếu tố của thời đại, đôi khi những yếu tố nầy còn tác động mạnh hơn cả yếu tố gia đình. Tôi không có điều kiện khảo sát nghiên cứu xã hội cho nên tôi chỉ sử dụng những kinh nghiệm của chính thời cắp sách của tôi trước đây và những biểu hiện chung quanh các con tôi hiện nay. 

Thời tôi đi học (nửa đầu những năm năm mươi đến nửa đầu những năm sáu mươi) ở miền Nam, trải qua các chế độ Sài Gòn sống bằng viện trợ Mỹ từ Ngô Đình Diệm đến các ông Nguyễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ. Trong xã hội có ba xu hướng chính trị:

- Xu hướng theo chế độ cai trị;

- Xu hướng tranh đấu cách mạng (lúc đầu rất nhỏ) chống chế độ Sài Gòn, chịu ảnh hưởng ít nhiều của kháng chiến chống Pháp, Mặt trận Giải phóng (sau năm 1960) và miền Bắc XHCN;

- Xu hướng trung gian (với khối quần chúng đông đảo theo Đạo Phật).

Lúc đầu xu hướng 1 thắng thế, về sau xu hướng 2 cùng với một bộ quan trọng của xu hướng ba gây nên những phong trào tranh đấu với các khẩu hiệu đi từ đòi tự do bình đẳng tôn giáo (1963) trải qua đòi dân chủ, rồi hoà bình và độc lập thống nhất dân tộc. Tuổi trẻ học đường chịu ảnh hưởng của 3 xu hướng nầy. Học để được chế độ ưu đãi cho quyền cao chức trọng, cho đi học nước ngoài (xu hướng 1, khá đông); Học để có uy tín, có một vị trí trong xã hội để đấu tranh yêu nước (người tiêu biểu cho xu hướng 2 là Giáo sư Lê Quang Vịnh); Học để có cái cần cầu cơm, khỏi bị bắt lính, chờ đất nước hoà bình đem tài năng ra thi thố (xu hướng ba, rất đông). Sống ở miền Nam chiến tranh nhưng lý tưởng của tuổi trẻ học đường rất rõ ràng. Dù ở trong xu hướng nào những tên tuổi như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyễn Giáp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà sư Thích Trí Quang, nhà triết học Trần Đức Thảo, học giả Đào Duy Anh, nhà thơ Xuân Diệu, nhà thơ Huy Cận, nhà văn Nguyễn Đình Thi.v.v. luôn là niềm tự hào của tuổi trẻ miền Nam. Nhìn được ảnh, đọc được chuyện những thần tượng ấy trên báo chí ngoại quốc tuổi trẻ đô thị miền Nam rất quý trọng.

Ngày nay có dịp kể lại chuyện thời đèn sách và tranh đấu của chúng tôi với các con tôi và bạn bè của chúng, tôi nhận được sự phản hồi rất đa dạng. Các con tôi bảo:

Thế hệ của ba sống có lý tưởng, sướng thật, còn tụi con bây giờ  thì …

Tùy theo hoàn cảnh, mỗi cháu mà tôi đã có dịp nói chuyện có mỗi cách ứng xử khác nhau. Một người con nhà quyền thế nói:

- Cần gì học giỏi, miễn sao lên lớp, ra trường được là có việc làm ngay, bác Ba, dì Tư đã hứa với ba mẹ cháu sẽ dành cho cháu một chỗ làm thu nhập khá lắm, nếu chưa thích đi làm thì… cho đi du học.

Con của cán bộ có nhiều tài sản thì lạc quan hơn:

- Học hành vừa thôi, cha mẹ cháu mấy học mà nay nhà đất nhiều nơi, đang lo tìm người đứng tên, chỉ bán một miếng vài trăm mét vuông ở Quận…thì ăn chơi cả đời không hết!

 Hoặc ngược lại, với một cháu khác thì đầy mặc cảm:

Có học giỏi mà không có thế lực thì rồi cũng về vùng sâu vùng xa thôi. Cháu chỉ mong sao không thuộc loại lưu ban là được. Hoặc:

Lý lịch của gia đình cháu có vấn đề, làm sao cháu xin được việc làm trong các cơ quan nhà nước, vì thế cháu phải phấn đấu học giỏi để vượt qua số phận, đi làm cho các Công-ty nước ngoài.

Hoặc thực dụng hơn, một cháu khác tâm sự:

- Thời kinh tế thị trường, chuyện chính trị các bác các chú lo, bọn cháu chỉ lo học làm sao kiếm cho được nhiều tiền để chu cấp cho gia đình, trả ơn cha mẹ là được rồi.

Hoặc có cháu thực thà tự bộc bạch lòng mình:

- Thời của các bác có thần tượng để noi theo, thời các cháu hôm nay thấy có người rao giảng đạo đức rất hấp dẫn, ngày mai đôi khi họ bị ra toà vì tham nhũng. Nên không biết tin vào ai! Cuối cùng bọn cháu chỉ biết tin mình thôi! Học để tự cứu mình.   

Tôi chỉ ghi lại năm ba ý kiến của tuổi trẻ mà tôi đã gặp và cũng chưa phải là những ý kiến đã làm cho tôi bàng hoàng. Thái độ của họ rất đa dạng người thì tự mãn, người mặc cảm, người ù lì, người đòi hỏi (xã hội phải có những tấm gương, những thần tượng để cho tuổi trẻ noi theo), người thích ứng, người thực dụng, người căm thù (những quan chức bất tài, tham nhũng).v.v. Tôi cố lắng nghe có cháu nào có một lý tưởng gì cao cả không, nhưng không thấy.

Có lần tôi đã nói với các cháu:

- “Cái nhục mất nước thế hệ của chú đã rửa, ngày nay cái nhục nghèo, cái nhục kém phát triển, cái nhục bị kẻ mạnh đe doạ (cấm vận và lấn chiếm), cái nhục một dân tộc anh hùng mà chưa có phát minh khoa học được thế giới biết đến, cái nhục Việt Nam chỉ là một thị trường tiêu thụ những sản phẩm nhập ngoại từ thấp (đồ chơi trẻ con) đến cao (máy bay Airbus, máy bay Boing)….Thế hệ các cháu phải rửa những cái nhục kém phát triển đó chứ ?”

Các cháu che miệng cười:

- Những việc to lớn đó có Đảng và Nhà nước lo. Bọn cháu có muốn lo cũng chẳng có ai cho xen vô lo.

Câu nói bộc trực nầy cho thấy hậu quả của cái chủ trương “bao cấp chính trị” đã gây cho dân chúng tính ỷ lại và đồng thời tẩy mất cái tình nước vốn có trong lòng tuổi trẻ xưa nay.

 Trong một môi trường xã hội như thế làm sao ngành giáo dục Việt Nam có thể đào tạo được nhiều nhân tài sáng giá cho đất nước? Bao giờ môi trường xã hội còn chưa có dân chủ, chưa có công bằng, nhân tài chưa được sử dụng đúng chỗ thì giáo dục Việt Nam còn chưa ra khỏi khó khăn.

3. Môi trường xây dựng Đại học

Tôi chưa được đi nhiều nước để tham quan các Đại học lớn trên thế giới. Trong phạm vi hiểu biết của tôi, tôi thấy đặc điểm của các nơi được xây dựng và phát triển Đại học trên thế giới là

- Trung tâm của các thành phố cổ;

- Nơi có truyền thống học ;

- Nơi có khí hậu tốt, thuận lợi cho việc học …Nhìn vào hiện thực Việt Nam tôi thấy Đại học Hà Nội, Đại học TP HCM là những Đại học đặt tại các Thành phố cũ do người Pháp lập nên; Đại học Huế đặt ở Thành phố Huế có truyền thống học giỏi; Đại học Đa Lạt là nơi có khí hậu ôn đới tốt nhất cho việc học. Các Đại học khác thành lập theo yêu cầu của các vùng, các địa phương. Không cần phải nghiên cứu, bất cứ người nào cũng có thể thấy Huế và Đà Lạt là hai nơi phát triển Đại học tốt nhất. Vì vậy, ngoài Hà Nội và TP HCM, hai thành phố Huế và Đà Lạt xứng đáng là hai nơi xây dựng hai Đại học Quốc gia. Cách đây 7 năm, nhân kỷ niệm 40 năm thành lập trường (1957-1997), tập thể lãnh đạo Đại học Huế và sinh viên Huế (mới và cũ) khao khát được Bộ GDĐT đầu tư nhân sự và vật chất để Đại học Huế được nâng cấp thành Đại học Quốc gia. Nhưng tiếc thay, cho đến nay Đại học Huế có mở rộng thêm nhiều khoa, tăng chỉ tiêu đào tạo lên nhiều lần, nhưng chất lượng vẫn nằm nguyên tại chỗ. Vì chất lượng Đại học Huế như thế cho nên phần lớn học sinh giỏi của Huế đều ra Hà Nội hoặc vào TP HCM. Lớp học của con gái tôi tại trường Quốc Học (khoảng nằm 2000) có 21 em được chuyển thẳng vào Đại học thì có 20 em ra đi, chỉ độc nhất một em vì hoàn cảnh gia đình phải ở lại Huế. Người ở lại nầy năm vừa qua ra trường đỗ thủ khoa môn Anh văn Đại học Sư phạm Huế. Khoa văn của trường Đại học khoa học Huế hiện nay hầu như vắng bóng Sinh viên Huế. Có vị hưu trí chua chát nói: “Đại học Huế của ta bây giờ dành cho sinh viên các tỉnh bắc miền Trung”. Đại học Huế muốn vươn lên thành Đại học quốc gia tự thân Đại học Huế phải phấn đấu, nhưng nếu không được sự đầu tư thích đáng (về nhân sự và tài chính) của Bộ GDĐT thì không bao giờ Đại học Huế có thể đạt được nguyện vọng của mình. Đặt vấn đề nầy ra tôi muốn nói đến vấn đề qui hoạch Đại học. Nếu qui hoạch sai, vấn đề đào tạo nhân tài cho các địa phương không thể nào đạt được. Nếu tình hình nầy kéo dài, chất lượng cán bộ, công chức, thầy giáo ở Huế sẽ tụt hậu là chuyện không thể tránh được.

4. Điều kiện kinh tế

“Có thực mới vực được đạo”. Cha mẹ phải có tiền mới nuôi con ăn học được. Nhiều em thông minh, học giỏi nhưng vì gia đình quá khó khăn về kinh tế nên phải bỏ dở việc học giữa chừng. Có nhiều em định bỏ học để ở nhà giúp đỡ gia đình thì được ai đó cho một suất học bổng chừng 500.000Đ/năm, em lại được cha mẹ cho đi học tiếp lên cao và trở thành người hiển đạt. Gần mười năm qua làm đại diện cho Quỹ học bổng Rotary Lyon Charbonnières (RLC) ở Huế, tôi đã gặp nhiều trường hợp như thế. Thực hiện những tiêu chí cấp học bổng của RLC, tôi rút được một kinh nghiệm. Nếu cấp học bổng dàn trải cho tất cả các em học sinh nghèo, thì mỗi em không được bao nhiêu và không giải quyết được việc gì cho các em cả. RLC tập trung tiền cấp cho những em học sinh nghèo mà học giỏi để các em học lên (1 triệu đồng/năm cho học sinh Thành phố và 500.000Đ cho học sinh vùng ven) và khuyến khích các em sau nầy quay lại giúp cho các em nghèo trên quê hương các em. Phương thức nầy rất hiệu nghiệm. Nhiều em học sinh nghèo mà học giỏi tại trường Quốc Học được nhận học bổng RLC đã tốt Đại học và cũng đã có nhiều em đi du học Pháp, Úc. 

Và chắc độc giả còn nhớ, mùa thi vừa qua (2004), VTV và báo Thanh Niên nhiều lần đưa tin viết bài về trường hợp vợ chồng ông nông dân Nguyễn Hữu Dinh (52 tuổi) - Nguyễn Thị Thương (49 tuổi) ở làng Dã Lê Chánh, huyện Hương Thủy (TTH), đã bán nhà, bán đất, cả gia đình xin tạm trú trong hiên nhà thờ họ để nuôi 6 đứa con đi học. Hai cháu trai đầu (Hữu Phương, Hồng Quang), đã đỗ Kỹ sư tại Đại học Bách Khoa Đà Nẵng, cháu trai thứ ba (Minh Châu) đang học quản lý Công nghiệp ĐHBK TP HCM, cháu thứ tư (Đoan Trang), học năm thứ 2 ĐHSP Huế, cháu thứ năm (Hồng Minh) vừa đỗ vào Khoa Sinh ĐHSP Huế, cháu gái út đang học lớp 6 tại quê nhà. Hiện nay vợ chồng ông Dinh vẫn còn ở tạm trong hiên nhà thờ họ Nguyễn Hữu, bà Thương bệnh sỏi thận đang chờ giải phẫu lần thứ ba, nhưng không khí gia đình ông rất hạnh phúc. Ông bà tin chắc khi các con đã tốt nghiệp Đại học, vợ chồng ông sẽ được đổi đời. Cả làng Dã Lê Chánh của ông xưa nay chưa có một gia đình nào có quyết tâm, và biết đầu tư cho việc học hành của con cái đến nơi đến chốn như thế.

Từ một vài việc nhỏ nêu trên, tôi liên hệ đến việc lớn của giáo dục quốc gia. Việt Nam ta nghèo nhưng không đến nỗi thiếu thốn lắm. Năm 2003, nhà nước dám bỏ ra hàng ngàn tỷ đồng để tổ chức Seagames 22 thì cũng có thể bỏ ra chừng ấy tiền để cung cấp cho công cuộc cải cách giáo dục (nếu cải cách đúng). Đó là chưa tính đến số tiền cũng cả ngàn tỷ đồng của các nước (đặc biệt là Nhật Bản), các tổ chức phi chính phủ giúp cho giáo dục nữa. Vấn đề ở đây là tiêu đồng tiền đó làm sao cho có hiệu quả nhất. Ai cũng biết “không thầy đố mầy làm nên”, đất nước đổi mới hội nhập, ta chưa có ông thầy giáo của thời kỳ đổi mới hội nhập thì làm sao “làm nên” đổi mới hội nhập được? Sau ngày Cách mạng Tháng mười Nga thành công, Lénine (1870-1924) hỏi nhà văn không xuất thân khoa bảng Maxime Gorki (1868-1936) :“Cách mạng thành công rồi nên làm việc gì trước?”. Maxime Gorki không do dự trả lời ngay: “Cải cách giáo dục”. Sau ngày Liên-xô tan rã và sau sự kiện ngày 19/8/1991, một trong những việc Tổng thống Eltsine cho làm ngay là soạn thảo và thông qua “luật Giáo dục nước Liên bang Nga”. Vì cần gấp cho nên chỉ trong vòng 6 tháng, Luật Giáo dục Liên bang Nga đã soạn thảo xong và thông qua. Theo các nhà nghiên cứu Giáo dục, bộ luật mới nầy của Liên bang Nga vừa mang tính truyền thống vừa hòa nhập thế giới “như nhân vǎn hoá, dân chủ hoá, giáo dục được lựa chọn”, “phù hợp tính chất kinh tế thị trường lại kế thừa tính ưu việt Giáo dục Xô viết cũ” đúng với đường lối chính trị mới của Liên bang Nga. Tháng 7/1992, Luật Giáo dục Liên bang Nga đi vào cuộc sống, đào tạo ra lớp người mới giữ vững được vai trò cường quốc của Liên bang Nga ngày nay. Maxime Gorki - người bạn lớn của Lénine không nói đến việc phát triển kinh tế rồi mới nghĩ đến việc cải cách giáo dục. Tổng thống Eltsine không đợi đến khi vực dậy được nền kinh tế Nga - thời hậu xô-viết, rồi mới tính đến việc cải cách giáo dục, mà phải làm ngay. Những nhà hoạch định giáo dục Việt Nam ngày nay đều biết chuyện đó, nhưng họ có vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam hay không, tôi không rõ.

Giáo dục là quốc sách hàng đầu, chiếm vị trí ưu tiên trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Vì thế mà nhiều người đặt câu hỏi: Tại sao ta không đầu tư cho việc đào tạo thầy giáo thời kỳ đổi mới một ngân sách như ngân sách đầu tư cho Seagames 22 để gởi một ngàn sinh viên ưu tú có bản lãnh dân tộc sang Âu-Mỹ học Sư phạm hoặc mời một ngàn thầy giáo ở Âu-Mỹ về giúp ta đào tạo thầy giáo mới ? Tôi nghĩ nếu có một ngàn thầy giáo mới ấy thì sự nghiệp giáo dục hiện nay sẽ mới và hiện đại ngay.

Nói tóm, làm sao cho có tiền là rất khó, nhưng biết sử dụng đồng tiền sao cho có hiệu quả nhất, bền vững nhất lại là việc khó hơn. Đồng tiền trong tay ngành giáo dục Việt Nam hiện nay đã được sử dụng hữu hiệu chưa ? Người dân đang chờ câu trả lời của ngành giáo dục. 

5.Thị trường lao động

Muốn có Kinh tế tri thức, các nước giàu đang bỏ tiền mua trí thức, mua chất xám. Trong nền kinh tế thị trường, việc cạnh tranh hàng hoá đã thấy khắc nghiệt rồi. Thế nhưng cạnh tranh về lao động tri thức còn ghê gớm hơn nhiều. Cuộc cạnh tranh đó các nước kém phát triển chỉ có thua, thua dài dài, thua đậm chứ không bao giờ thắng hay hòa được với tư bản.

Các nước kém phát triển là nơi tiêu thụ hàng hoá của các nước phát triển. Ngược lại các nước phát triển là thị trường “tiêu thụ” nhân tài, trí thức của các nước kém phát triển. Có được mấy người giỏi của Âu Mỹ đến làm việc cho các nước kém phát triển? hay họ chỉ đến làm thầy rồi đi thôi? Trong lúc đó, đại đa số những người tài của các nước kém phát triển phục vụ trong các nước phát triển. Hàng ngàn người tài Việt Nam đang làm việc trong nhiều lĩnh vực tại các nước phát triển Âu Mỹ minh chứng cho nhận xét ấy. 

Một thực tế đáng lo ngại nữa là tại Việt Nam trong mấy năm gần đây, đã xuất hiện những tổ chức đi “săn đầu người” của nước ngoài. Trước các kỳ thi tốt nghiệp Đại học, các tổ chức “săn đầu người” đến các Đại học tuyển người (chọn người giỏi về chuyên môn và giỏi ngoại ngữ) rồi cung cấp cho các Công-ty, tổ chức nước ngoài làm ăn tại Việt Nam. Lương của người được tuyển cao gấp 4, 5 lần so với lương chính thức của thầy cô giáo vừa đào tạo nên người giỏi ấy. Một số người được tuyển được đưa ra nước ngoài làm việc. Có người ra đi và không bao giờ trở về nữa. Giống như du học sinh giỏi, tốt nghiệp ở nước ngoài và ở lại làm cho ngoại quốc luôn. Những sinh viên tốt nghiệp được giữ lại trường phần lớn không phải là những người giỏi mà là COCC, người có tiền đút lót, có thân có thế.  (Có thể nhìn vào bất cứ Đại học, Trung học, Viện nào cũng có thể thấy có hiện tượng ấy). Nếu các Đại học có chủ trương những sinh viên tốt nghiệp thuộc loại giỏi nhất - nhì - ba sẽ được giữ lại trường thì các sinh viên giỏi yên tâm, có chỗ làm việc tốt, không ngó nghĩ gì đến việc làm cho nước ngoài nữa. Bên cạnh chủ trương đó, lãnh đạo và các đoàn thể trong nhà trường chăm sóc, bồi dưỡng chính trị cho những sinh viên giỏi ấy nữa thì việc giữ người tài càng chắc hơn.  

Nếu cái bệnh chủ nghĩa bình quân, nhất thân nhì thế, tiêu cực không chữa trị được thì Việt Nam sẽ làm mất hết trí thức giỏi. Khi ấy muốn có những ngành kỹ thuật cao, những ngành đòi hỏi tri thức bậc cao ta phải thuê người nước ngoài với giá ngộp thở giống như gỗ của “rừng vàng” đem bán hết, ngày nay phải nhập gỗ nước ngoài về sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu vậy.

*

*     *

Một yếu tố cực kỳ quan trọng đối với một nền Đại học trong thế giới có nền kinh tế thị trường là “tinh thần tự trị Đại học”. Có tự trị Đại học mới phát huy được thế mạnh, sự độc đáo, sự sáng tạo riêng của sinh viên, của từng Đại học. Việc nầy liên quan đến chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngoài quyền lực của ngành Giáo dục Đào tạo xin dành trình bày trong một dịp khác. 

Như vậy cải cách giáo dục còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố xã hội ngoài phạm vi giáo dục. Cho nên bao giờ những bất cập của xã hội chưa được giải quyết thì vấn đề giáo dục chưa vừa ý được.

Những việc tôi vừa nêu trên mang tính cục bộ, cảm tính. Nếu nó không đúng với tình hình chung, kính mong được lượng thứ.  Đa tạ.

Huế, 11/10/2004

Nguyễn Đắc Xuân

 

 

 

 
 
Các bài Giáo dục khác