Phủ thờ Hồng Y Thụy Thái vương giữa lòng Thành phố Huế
Khu vực Gia Hội gồm P. Phú Cát và một phần P. Phú Hiệp thuộc Thành phố Huế có nhiều Phủ, Phòng của các ông hoàng bà chúa nhà Nguyễn. Riêng một đoạn đường Chi Lăng có đến 3 Phủ nổi tiếng ở gần nhau: Số 209 Phủ Thọ Xuân Vương (con vua Minh Mạng), số 227 Phủ Thụy Thái (con vua Thiệu Trị), số 255, Phủ Hoà Thạnh Vương (con vua Minh Mạng).

Theo sử sách, Phủ Thụy Thái ra đời từ năm 1847 -  Năm 1847 là năm cuối của vua cha (Thiệu Trị) và năm đầu của vua anh (Tự Đức). Nam 1847, Hồng Y lên 15 tuổi (1833-1847), có lẽ là thời điểm Hồng Y được xuất các đi lập Phủ ở ấp Đông Trì để ở riêng. Ba mươi năm sau, ông qua đời, nhà riêng của ông trở thành nhà thờ ông. Hai mươi năm sau (1897), cháu nội của ông là vua Thành Thái cho xây dựng lớn nhà thờ của ông. Công trình có hai kiến trúc: Tiền đường phía trước và điện thờ phía sau. Thi công trong ba năm. Tháng Tám năm Canh Tý (1900) khánh thành. Từ đó nhà thờ được vinh danh là “Thụy Thái Vương Từ”.

Ngày xưa, Phủ Thụy Thái cách đường Chi Lăng một khu đất vườn rộng. Trải qua nhiều biến cố, chiến tranh liên tiếp, khu đất vườn bị chiếm dụng xây dựng nhà phố chỉ chừa lại một đoạn đường hẹp hướng thẳng vào 3 cửa Phủ.

Hồng Y Thụy Thái được phong tước Vương nên cửa cổng vào Phủ thờ của ông cũng giống như Phủ Thọ Xuân Vương, Phủ Tùng Thiện Vương, Phủ Tuy Lý Vương đều có 3 cửa. Dân gian thường gọi là “Phủ Ba Cửa”. “ Cửa chính giữa dành cho vua (hoặc các quan được nhà vua cử đại diện cho vua), hai cửa hai bên dành cho nam (trái), nữ (phải) con cháu và bá tánh. Đến trước cửa, ngước nhìn lên vọng lâu trên cửa thấy ba chữ lớn “Túc Thanh Cao” (kính cẩn, trong sạch và cao thượng), phía dưới một khoản tên Phủ được chạm nổi  “Thụy Thái Vương Từ Môn”. Bên trong cửa dựng một bức bình phong lớn, ngăn chặn những luồn khi xấu tác động thẳng vào điện thờ. Ở chính giữa bức bình phong có đính một tấm bia đá đen còn mới khắc tiểu sử tóm tắt của Thụy Thái Vương và con cháu là ba nhà vua Nguyễn. Bia chữ quốc ngữ nhưng hình thức trình bày theo lỗi chữ Hán từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, trừ cái tít trên cùng Thụy Thái Vương Phòng viết từ trái sang phải. Nội dung tấm bia: “THỤY THÁI VƯƠNG. Con thứ tư Hiến tổ Chương Hoàng đế. Sanh năm Minh Mạng thứ mười bốn. Mất năm Tự Đức thứ ba mươi. Thơ văn nổi danh hậu thế. Con trai thứ hai là vua Dục Đức. Cháu nội là vua Thành Thái. Chắt nội là vua Duy Tân”.  Nội dung tấm bia nói lên vị trí quan trong của ngôi phủ nầy đối với nhà Nguyễn.

Điện thờ Hồng Y Thụy Thái Vương. Ảnh NĐX

Sau bức bình phong là sân rộng (khoảng 10m x 14 m) lót gạch Bát Tràng. Cuối sân là ngôi chánh điện 5 gian rất uy nghi.Phủ thờ Thụy Thái được xây dựng dưới thời Thanh Thái (1897), có hai kiến trúc, chánh điện phía sau, tiền đường phía trước, đều 5 gian. Nhưng trải qua chiến tranh, gió báo, mưa dầm nắng gắt ở Huế, Phủ bị hư hại nặng. Đến năm 1990 cháu chắt của góp tiền trùng tu, chỉ giữ được ngôi tiền đường, còn chánh điện phía sau phải triệt giải. Việc thờ phụng chuyển ra tiền đường. Tiền đường cũ trở thành chánh điện mới như ta thấy ngày nay.

Trong điện, gian chính giữa, phía trước đặt án thờ vọng vua Thiệu Trị - thân phụ của Thụy Thái Vương. Phía sau, ở gian chính giữa là án thờ Hồng Y Thụy Thái Vương và bà Vương Phi  Lê Thị Ưng.

Từ ngoài nhìn vào, kế tiếp án bên phải thờ bà Thục phi Nguyễn Thị Xuyên - thân mẫu của Thuỵ Thái Vương, án bên trái thờ Công tử Ưng Hinh – trưởng Công tử của Vương.

Án thờ ngoài bìa bên trái dành thờ Hội đồng các con cháu nội qua nhiều đời không có ai hương khói. Đặc biệt trên án thờ nầy có thờ bà Công nữ Thiện Niệm (1868-1946) - con gái thứ 17 của Thụy Thái Vương và là em ruột của vua Dục Đức, vợ ông Diệp Văn Cương và là mẹ nhà báo luật sư nổi tiếng Diệp Văn Kỳ người Nam Bộ.

Án thờ ngoài bìa phải thờ Quan Thánh. Phia trước đó có bàn thờ thổ thàn kê sát vách tường, ngang với án thờ vọng vua Thiệu Trị ở gian giữa.

Phủ thờ còn giữ được nhiều hiện vật cổ quý giá. Đáng chú ý nhất là bức Hoành hình cuốn thư, trên đầu chạm cặp rồng chầu rất tinh vi, lạc khoản đề năm Canh Tý (1900), treo trên cao ỏ gian chính giữa. Nội dung bức hoành là bài thơ ngự chế của vua Tự Đức do chị và các em của vua Thành Thái phụng cúng. Đó là chị em các bà Chúa Nhất, bà chúa Tám, ông Tuyên và ông Hoàng Mười con vua Dục Đức.

Bức hoành hình cuốn thư treo trên gian giữa điện thờ . Ảnh NĐX

Bài thơ ngự chế đã dăng trong phần tiểu sử, con cháu Phủ Thụy Thái thích nhất   đoạn nầy:                         

Giới đệ thân trung hậu

Do nhi phân ngoại vinh

Văn chương sư Tử Kiến

Đức nghiệp mộ Đông Bình

Có nghĩa là: Em của ta vốn đông, Chỉ có chú là tâm đắc nhất, Tài vang ra cõi xa, Đức độ làm người chung quanh mến yêu.

Vĩnh Cao dịch thơ:

Em ta tuy thật là đông

Chỉ có mình chú đáng cùng kết minh

Học hành nổi tiếng tài danh

Lại thêm đức hạnh vang quanh tiếng đồn

Phủ thờ còn giữ đươc hai bộ Lỗ bộ (binh khí nghi trượng) nguyên gốc, đã hơn một trăm năm mà màu sơn son thếp vàng vẫn còn rực rỡ tinh khôi. Trên các cột Phủ thờ treo 4 câu đối, ngoài giá trị văn chương, 4 câu đối còn là những hiện vật quý hiếm của các ông hoàng bà chúa nổi tiếng ở Huế cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Để cho con cháu và khách tham quan du lịch không thạo chữ Hán, chúng tôi ghi lại, phiên âm và phỏng dịch 4 câu đối sau đây:        

Câu 1:  Giữa trước: (hai bên án thờ vua Thiệu Trị)

 Phải:    寵樹蚤升瑞盎東藩桐削葉

          Trái:    靈根式固芬流兌野棣穠花

                                  (姪孫女第八公主珠還恭上)

          Phiên âm:

          Sủng thụ tảo thăng thụy áng đông phiên đồng tước diệp,

          Linh căn thức cố phân lưu đoài dã đệ nùng hoa.

                        (Điệt tôn nữ đệ bát công chúa Châu Hoàn cung thướng)

          Tạm dịch:

 Nhờ ơn vua mà sớm được thăng chức như cây đồng nảy lá ở hàng rào phía đông

Gốc thiêng liêng thì sẻ giữ vững như cây đệ nở hoa rườm rà ở phía tây.

                             (Cháu gái thứ 8 là công chúa Châu Hoàn kính dâng

Câu 2: Giữa sau: (hai cột hai bên áng thò ThụyThái Vương)

          Bên phải:若木分光桐葉圭猶傳帝子

          Bên trái: 皇枝藉慶梅花粧幸列天孫

                               (龍飛庚子仲秋

                                                              姪孫女美良公主選隨恭上)

          Phiên âm:

          Nhược mộc phân quang, đồng diệp, khuê, do truyền Đế tử,

          Hoàng chi tạ khánh, mai hoa, trang hạnh liệt Thiên tôn.

                               (Long Phi Canh Tý trọng thu - Điệt tôn nữ Mỹ Lương Công chúa Tốn Tùy cung thướng)

          Tạm dịch:

          Ánh sáng ngầm đời trước còn rực rỡ truyền lại cho con vua,

          Cành lớn phúc lành tô điểm mai hoa tràn đầy cho cháu chúa.

                             (Long Phi, Tháng tám năm Canh Tý (1900) - Cháu gái là Tốn Tùy tức Công chúa Mỹ Lương, kính dâng)   

Câu 3: Ngoài trước:

          Bên phải: 藩邦祥開棠棣有花皆昔樹

          Bên trái:   仙源慶衍沁園一水是餘波

                                     (龍飛庚子年仲秋姪孫 - 福琳公主閑家恭上)

          Phiên âm:

          Phiên bang tường khai, đường lệ hữu hoa giai tích thụ,

          Tiên nguyên khánh diễn, thấm viên nhất thủy thị dư ba.

                                             (Long Phi Canh Tý trọng thu - Điệt tôn Phúc Lâm công chúa Môn Gia cung thướng)

          Tạm dịch:

          Đất phên dậu mừng sinh con quý nhờ cây xưa nay đã nở hoa,

          Dòng hoàng tộc càng đông đúc dòng nước vườn hoa có sóng thừa.

                                        (Long Phi, giữa Tháng tám năm Canh Tý (1900) - Cháu gái là Môn Gia tức Công chúa Phúc Lâm kính dâng)

 Câu 4: Ngoài sau:

 Bên phỉ:  振振艷說麟之趾

 Bên trái: 挺挺榮看竹有筠

          Phiên âm:

          Chấn chấn diễm thuyết lân chi chỉ

          Đĩnh đĩnh vinh khán trúc hữu quân

         Tạm dịch:

          Vui đẹp cháu con (quyền quý) ngày phấn chấn

          Tre trúc lại sinh măng thật vẻ vang.[9]

Phần lớn những hoành phi, câu đối của Phủ thờ do các con của vua Dục Đức (chị em của vua Thanh Thái) phụng cúng nhân lễ khánh thành Phủ thờ vào Tháng tám năm Canh tý (1900).

Xem xong điện thờ, tôi được ông Bảo Nhẫn – thủ từ, mở cửa hậu dẫn ra xem cái đình tứ giác ghi nhớ ngôi điện cũ đã bi triệt giải. Giữa đình đặt một tấm bia lón khắc 7 dòng chữ Hán. Bảy dòng chữ Hán nầy đã được dịch và khắc trên tấm bia đá đen đính trên bức bình phong lớn ngay khi ta mới bước vào cửa Tam quan đã được tường thuật ở trên.

Đình tứ giác dựng trên nền cũ điện thờ Thụy Thái Vương ngày xưa. Ảnh NĐX

Kích thước điện thờ cũ to lớn cao rộng như thế nào, đến nay không ai biết. Nhưng bên cạnh đình tứ giác còn lưu lại mấy khối đá táng cột rất lớn, hình vuông, mỗi cạnh 60 cm, cao 40 cm chứng tỏ điện thờ gốc cao rộng hơn điện thờ ngày nay.  Mặt sau và hai bên phải trái của khuôn viên dựng đình tứ giác đều có tường ngăn cách với bên ngoài. Bên ngoài ba bức tường ngăn nầy có nhiều chuyện phức tạp. Bức tường bên mặt là bức tường sau một “Nhà Đại sảnh” ngày xưa ông Thượng thư bộ Lễ Bửu Thạch (cháu đích tôn của Thụy Thái Vương) lập ra để tiếp khách Tây và các quan lớn. “Nhà Đại sảnh” nầy sau năm 1975, bị trưng dụng cho bộ đội rồi cán bộ ở. Sau nầy được trả lại, nay đóng cửa để không. Phía trước “Nhà Đại Sảnh”, cách một mảnh sân là Từ đường của con cháu dòng trưởng của Thụy Thái Vương mang tên Kiến Thụy Hương Công Từ. Từ Đường hương hỏa này (số 235 Chi Lăng) hiện nay do bà Công Huyền Tôn nữ Bích Thủy (con gái ông Vĩnh Thuyên) lo hương khói kỵ giỗ với sự giúp đỡ của Ban quản trị Phủ gồm các ông bà Vỉnh Đương, Bảo Nhẫn , Công Huyền Tôn Nữ Tuyết Mai và Công Huyền Tôn nữ Bích Thủy.

Trên mảnh sân giữa Phủ Thụy Thái và Từ đường từng bị chiếm dụng xây nhà riêng của cán bộ, sau được UBND Thành phố can thiệp, việc xây nhà trái phép phải dừng lại, nhưng tường, móng cái nhà riêng nầy đến nay vẫn còn trơ gan cùng tuế nguyệt.Bên ngoài bức tường ngăn bên trái là một con đường hẹp dẫn ra một xóm nhà dân ở phía sau từng thuộc đất của Phủ thờ.

Bức tường mặt sau đình tứ giác ngăn cách khu Phủ thờ với nhà đất của một cán bộ chiếm dụng đất của khu Phủ thờ. Chuyện nhà đất của khu Phủ thờ Thụy Thái Vương bị chiếm dụng sinh ra nhiều vụ kiện tụng mãi cho đên nay vẫn chưa kết thúc. Mà không riêng gì Phủ Thụy Thái, nhiều Phủ, Phòng, khu  lăng mộ nhiều ông hoàng, bà chúa, kể cả lăng vua (Dục Đức) ở Huế cung bị vi phạm, chiếm dụng, còn lâu chính quyền Thành phố Huế mới giải quyết xong. Nên chuyện bá tánh vi phạm đất đai ở Phủ Thụy Thái không có gì lạ.

Đi thăm Phủ thở Thụy Thái Vương, điều tôi mừng nhất là: Hậu duệ của Thụy Thái Vương ở Huế không còn nhiều, phần lớn là nghèo, trừ con cháu của dòng đích (đã có nhà thờ riêng), nhưng việc chăm sóc Phủ thờ rất chu đáo. Hiện nay trên danh nghĩa thì ông Bảo Túc (ở Hoa Kỳ) làm Chủ tự, ông Vĩnh Đương đã 80 tuổi, đại diện ở Huế nhưng sức khỏe kém, việc chăm sóc Phủ thờ  đều do ông Bảo Nhẫn đảm trách xem như một “thủ từ”. 

Ông Bảo Nhẫn bên áng thờ tiền nhân. Ảnh NĐX

Mỗi ngày, Phủ thờ luôn được sạch sẽ, khách đến thăm, trí thức, sinh viên đến nghiên cứu đều được đón tiếp chu đáo, tận tình. Không những con cháu nội mà cả cháu ngoại, dâu, rể, nam, lẫn nữ đều rất nhiệt tình. Có được sự tốt đẹp đó chỉ có một cách giải thích là do cái đức Thụy Thái để lại mà thôi.  


[9] Bốn câu đối trên do Ngyễn Công Trí dịch và được Phan Thuận An hiệu đính.

Nguyễn Đắc Xuân

 
 
Các bài Vua quan triều Nguyễn khác