Chuyện dọc đường sứ đoàn Phan Thanh Giản sang Pháp năm 1863
Như sử sách đã viết, sau mấy năm kháng cự, quan quân triều Tự Đức không giữ được đất Nam Kỳ nên phải thấm nước mắt ký Hòa ước Giáp Tuất (1862) nhường cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ là Biên Hoà, Gia Định và Định Tường. Tờ Hòa ước đã làm cho vua Tự Đức mất ăn mất ngủ. Gia Định là đất khai nghiệp của nhà Nguyễn, và cũng là quê mẹ của nhà vua (bà Từ Dũ), để mất Gia Định vua Tự Đức cảm thấy có tội với liệt thánh và có tội với mẹ.

Vì thế ngày đêm ông tìm cách chuộc lại. Một hôm ngồi trước tờ Hòa ước (1862) ông đột nhiên dán mắt vào điều 6:

Nếu không có việc quan trọng mà một trong ba bên (tức Pháp, Tây Ban Nha và Đại Nam. NĐX) muốn gởi lời chúc mừng cho hai bên kia thì có thể cử một đại diện.”

Một tia hy vọng nho nhỏ loé lên trong tâm trí ông. Nhà vua có thể vận dụng điều 6 này để gởi một phái đoàn mang lời chúc mừng và tặng phẩm của Hoàng đế nước Đại Nam đến vua Pháp Napoléon III giống như trước đây các vua Việt mang cống phẩm sang Thiên Triều Trung Hoa vậy. Và, nhân việc gặp vua Pháp, sứ thần Đại Nam sẽ chân thành xin vua Pháp cho chuộc lại 3 tỉnh đã mất. Đó là một cái kế khôn ngoan nhưng sự khôn ngoan đó không vượt qua được thực tế: không những thực dân Pháp không muốn trả 3 tỉnh đã chiếm mà chúng còn muốn chiếm luôn cả 3 tỉnh còn lại ở miền Tây Nam kỳ. Do đó, mặc dù vua Tự Đức đã cử được đoàn sứ thần sang gặp vua Pháp, tốn kém vô cùng nhưng chẳng có kết quả gì. Chuyện ấy là một trang xám trong lịch sử triều Nguyễn xin không nhắc lại. Bài viết này chỉ kể lại những chuyện đau đầu của sứ đoàn mà sử sách ít nhắc đến nhưng con cháu thì rất muốn biết.

Sứ đoàn sang Pháp năm 1863 có 72 người (vua Tự Đức cử 63 người, thực dân Pháp ở Sài Gòn cử 9 người)(1) do Tiến sĩ Phan Thanh Giản (Hiệp Biện Đại học sĩ) làm Chánh sứ, Tiến sĩ Phạm Phú Thứ (Lại bộ Tả Tham tri) làm Phó sứ và Thám hoa Ngụy Khắc Đản (Án sát tỉnh Quảng Nam) làm Bồi sứ. Ngoài ra còn có hai người Pháp là Aubaret (tức Hà Bá Lý, nói thạo tiếng Việt và đã dịch nhiều sách Việt sang tiếng Pháp) và Rieunier đi theo hướng dẫn. Đoàn rời Huế vào ngày 21-6-1863 bằng tàu Echo, và rời cảng Cần Giờ (Sài Gòn) ngày 4-7-1863 bằng tàu Européen, đến cảng Toulon (Pháp) ngày 9-9-1863, đến Paris ngày 13-9-1863, trở về Sài Gòn vào ngày 18 tháng 3 năm sau (1864).

Hiệp biện Đại học sĩ Phan Thanh Giản

1. Mẹ già gởi lại để đi đổi ngói lấy vàng

 Nhận được chỉ dụ của vua Tự Đức cử làm bồi sứ đi Pháp chuộc đất, Thám hoa Ngụy Khắc Đản rất bối rối. Ông biết đánh nhau mấy năm trời mà không thắng được phải ký hoà ước nhượng đất, bây giờ dùng tiền và ba tấc lưỡi làm sao có thể chuộc lại được? Nhưng ông Thám hoa không dám tâu trái ý vua mà chỉ vái lạy xin ở lại nhà:

- Muôn tâu hoàng thượng, thần còn mẹ già ở quê nhà Nghi Xuân (Hà Tĩnh) đang ngóng đợi, thần không dám nhận nhiệm vụ đi sứ quá xa quê!

Vua Tự Đức cả giận quát rằng:

- Đạo làm tôi phải lấy công nghĩa làm trọng. Sao nhà ngươi nỡ từ chối sự tín nhiệm của ta? Nhà ngươi hãy vui vẻ ra đi, mẹ già gởi lại, ta sẽ nhờ tỉnh thần xứ Nghệ thăm nom và mỗi tháng cấp cho tiền gạo!

Biết không thoái thác được, Ngụy Khắc Đản khấu đầu nhận nhiệm vụ.

Vua Tự Đức cũng thấy được nhiệm vụ khó khăn của sứ đoàn cho nên ướm hỏi Chánh sứ Phan Thanh Giản:

- Nếu chuyến này sang Pháp, người ta không cho chuộc thì nhà ngươi có cách gì đối phó không?

Phan Thanh Giản tâu:

- Nếu có thể đem ngói đổi lấy vàng (dĩ ngỏa dịch kim) thì lúc nào chúng tôi cũng sẵn sàng cả, còn ngoài ra lũ chúng tôi không có cách nào khác hơn!

 Vua Tự Đức vỗ vai Phan Thanh Giản và dụ rằng:

- Ngươi đã chịu hy sinh trước sứ mạng thì ta cũng chắc được khỏi tội đối với đời sau. Đất của ba tỉnh này là xương máu của dân, chuộc lại được là chuộc tội cho ta. Ngươi hãy gắng sức!

Nhưng ngói thì làm sao đổi được vàng! Cho nên vua Tự Đức vẫn phải mang cái án để mất nước hồi ấy.

2. Bệnh và chết gởi xác xứ người

Sáng ngày 8-8-1863 tàu Européen đến Aden - thuộc địa của Anh (sau này là Thủ đô của nước Yémen). Sau hơn một tháng lênh đênh trên biển, nhiều lần sứ đoàn bị say sóng ngất ngư. Ngay buổi chiều đến Eden, các thầy thuốc chăm sóc sức khoẻ cho đoàn khẩn cấp báo với Chánh sứ Phan Thanh Giản:

- Bẩm Ngài, thông ngôn Nguyễn Văn Trường chịu không nổi sóng gió đã đột ngột qua đời !

Cụ Phan lúc ấy đã 67 tuổi, trải qua một hải trình dài như thế cụ đang rất khó thở. Nghe tin người thông ngôn của mình chết đột ngột giữa đường, cụ lại càng khó thở hơn. Tang lễ ra làm sao? Chôn cất người chết như thế nào ở cái xứ nắng và cát này? Ai sẽ thay Trường làm thông ngôn cho sứ đoàn?

May mắn trong đoàn có ông Aubaret (Hà Bá Lý) thạo viêc, đã làm trung gian nhờ lãnh sự Pháp giúp chôn cất thông ngôn Nguyễn Văn Trường dưới chân dãy đồi Aden. Ngày 9-8, việc chôn cất và xây mộ cho người quá cố xong, cụ Phan sai quan phụ trách lễ vật Nguyễn Văn Chất đem trà, lụa, các loại vải đến tặng và cám ơn toà lãnh sự và những người đã giúp cho việc tang.

Cuối tháng 8-1863, trong thời gian sứ đoàn lưu lại thành phố Alexandrie, vị chánh y (thầy thuốc hạng nhất) của sứ đoàn là Nguyễn Văn Huy cũng chết. Xác ông Huy được chính quyền thành phố chôn cất tại địa phương. Trước đó mấy hôm (26-8-1863) ông cai đội Nguyễn Hữu Tước cảm thấy mệt và chính ông Huy đã khám bệnh cho ông Tước và khẳng định ông Tước bị bệnh hủi (?). (Có lẽ ông Tước bị bệnh ghẻ lở nặng). Theo nhật ký của Sứ đoàn và được dịch sang tiếng Pháp đăng trong BAVH năm 1919 cho biết sứ đoàn đi dài ngày trên biển, rất thiếu nước ngọt để tắm rửa giặt giũ cho nên người nào trong sứ đoàn cũng bị chí rận ghẻ lở đầy mình. Khi đoàn đến Alexandrie, trong lúc chờ tàu đi Paris, sứ đoàn phải đi tắm hơi, thay quần áo, xức thuốc chữa bệnh ghẻ lở xong rồi mới được đi thăm thành phố. Sứ đoàn cảm thấy nhục nhưng thủ phận làm khách nên cũng phải làm theo ý chủ.

Sứ đoàn nước Đại Nam đi Tây ngoại giao mà chẳng khác nào đi đày! Càng trách cái chính trị không tưởng của vua Tự Đức bao nhiêu thì lại càng thương cho cái lòng trung của quan lính ta xưa bấy nhiêu!

3. Lá cờ khăn gói

Vào trung tuần tháng 8-1863, tàu đưa sứ đoàn sắp vào kênh Suez, viên quan Tây Aubaret đến trao đổi với sứ đoàn:

- Theo tập quán quốc tế, khi tàu của một sứ thần ngoại quốc đến một hải cảng nào thì ở đó phải bắn 19 phát súng lệnh để chào mừng và tàu của sứ thần phải thượng quốc kỳ của mình lên để đáp lễ. Vậy xin cụ cho thượng quốc kỳ Đại Nam lên vì tàu sắp vào kênh Suez !

Cho đến 1863, nước Đại Nam chưa có quốc kỳ. Lá cờ đuôi nheo thêu rồng là kỳ hiệu của nhà vua, sứ đoàn không được phép dùng. Cụ Phan mời họp sứ đoàn để bàn. Nhưng các cụ Thám hoa, Tiến sĩ nổi tiếng mưu lược thế mà chẳng có ai nghĩ ra được một mưu chước gì để cấp tốc chế ra một lá cờ cho sứ đoàn. Thật nan giải. Bất ngờ một người theo hầu cụ Phan tên là Lương Doãn lên tiếng:

- Bẩm các cụ, nước ta không có quốc kỳ, mà việc này thì lại quá cấp bách. Con thấy chiếc khăn gói của cụ Chánh bằng lụa Kiều cầu còn mới tinh, màu đỏ tươi rất đẹp. Con đề nghị các cụ tạm dùng cái khăn gói làm cờ, sau này về nước tâu lên Hoàng đế ngự tường!

Sáng kiến của Lương Doãn hay quá, các cụ chấp thuận ngay. Lá cờ khăn gói màu đỏ nhanh chóng được treo lên cột cờ tàu Européen. Không ngờ chỉ một lát sau, Aubaret lại đến báo:

- Lá cờ đỏ của sứ đoàn không dùng được vì nó giống với cờ của nước Ai Cập màu đỏ (ở giữa có chữ thập và ngôi sao trắng), sợ nước Ai Cập hiểu lầm.

Các cụ lại họp bàn. Sau một hồi trao đổi, để phân biệt với cờ nước Ai Cập, các cụ quyết định thêu lên lá cờ đỏ 4 chữ “Đại Nam Khâm Sứ” màu vàng. Các tay thợ thêu có mặt trong đoàn khẩn trương thực hiện quyết định của các cụ. Khi tàu Européen vào kênh Suez, nghe 19 phát súng lớn nổ chào mừng, lá “quốc kỳ” màu đỏ thêu 4 chữ Đại Nam Khâm Sứ được kéo lên hạ xuống nhiều lần để đáp lễ. Rất tuyệt.

Nhưng lá “quốc kỳ” ấy không giống ai nên sau khi đi sứ về, vua Tự Đức giải tán sứ đoàn, lá “quốc kỳ” khăn gói chỉ còn lưu lại trong nhật ký của sứ đoàn mà thôi.

4. Một tháng mất ăn mất ngủ vì ba chữ “phải có sợ”

1863, Phái đoàn Sứ giả VN tại Pháp

Sứ đoàn Phan Thanh Giản đến Paris ngày 13-9-1863, vua Napoléon III đang đi nghỉ mát ở Biarritz - bờ biển miền Tây nước Pháp, nên không gặp được. Sứ đoàn phải ăn chực nằm chờ hơn hai tháng, cho mãi đến ngày 15-11-1863, sứ đoàn mới được chính thức đón tiếp tại điện Tuileries ở Paris. Sau khi trao tặng phẩm, Chánh sứ Phan Thanh Giản đọc và trao lại cho vua Napoléon III quốc thư của vua Tự Đức viết bằng chữ Hán đề ngày 3-5 Tự Đức thứ 16 (tức 18-6-1863). Trong quốc thư, sau khi đề cập đến Hiệp ước mà nước Đại Nam vừa ký kết với nước Pháp, vua Tự Đức viết không chút mập mờ rằng:

Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng bức thư do vị đại sứ toàn quyền của Hoàng thượng đệ trình, chúng tôi thấy úy nhiệm thư chỉ nói đến hai vấn đề là việc truyền giảng đạo thiên chúa và tự do buôn bán. Trong ủy nhiệm thư của Nữ hoàng Tây Ban Nha cũng vậy. Trong các quyền toàn vẹn đó, không hề nói, bất cứ bằng cách nào, đến vấn đề yêu sách một mảnh đất cỏn con nào. Vậy mà qua Hiệp ước ấy, chúng tôi cưỡng bách phải trả 4 triệu quan, ngoài ra còn phải cắt nhường toàn vẹn lãnh thổ ba tỉnh.[...] Trong tinh thần hoà bình và hoà hợp đề nghị hoặc giảm số chiến phí ấy xuống hoặc kéo dài thời hạn thanh toán từ 20 đến 30 năm.”

Quốc thư được viết mạch lạc, lịch sự, có lý có tình. Đọc bức quốc thư, Chánh sứ Phan Thanh Giản tự tin và nghĩ rằng không có điều gì làm cho Napoléon III phải phật ý cả. Đọc xong quốc thư Phan Thanh Giản đi lui sau đứng giữa hàng sứ đoàn để nghe vua Pháp đáp từ. Napoléon III đường bệ ngồi trên ngai phán một cách thẳng thừng rằng:

- “La France, dit-il en substance, est bienveillante pour toutes les nations et protectrice des faibles; mais ceux qui l’entravent dans sa marche, ont à craindre sa sévérité”.

Thông ngôn Nguyễn Văn Trường của sứ đoàn đã mất ở Aden, sau đó mọi giao thiệp với Tây đều nhờ Aubaret. Trong cuộc tiếp kiến quan trọng này, cũng chính Aubaret làm thông ngôn. Aubaret dịch qua tiếng Việt những dòng cuối đáp từ của vua Pháp rằng:

- Nước Pháp có lòng nhân ái với mọi dân tộc và là nuớc bảo trợ cho các nước yếu. Nhưng những kẻ nào cản trở bước tiến của nước Pháp thì “phải có sợ”.

Hoàng đế Napoleon III (55 tuổi) tiếp Sư đoàn Phan Thanh Giản

Câu cuối dịch lời đáp từ có ba từ “phải có sợ” vừa thốt ra khỏi miệng Aubaret, cả sứ đoàn xanh mặt (il faut trembler), họ quá sức thất vọng, có người muốn lăn đùng ra chết giữa điện Tuileries. Vua Pháp sao mà cứng rắn đến vậy! Như thế thì nhiệm vụ đi ngoại giao của sứ đoàn tốn kém, gian khổ, lo âu đủ điều đã hoàn toàn thất bại.

Từ sau hôm tiếp kiến vua Pháp, sứ đoàn Phan Thanh Giản cảm thấy nhục nhã, chán nản. Ám ảnh bởi ba chữ “phải có sợ”, mọi người trong sứ đoàn lo lắng mất ăn mất ngủ. Trong lúc đó thì phe thực dân chống lại việc trả đất 3 tỉnh cho nước Đại Nam tưởng thắng thế, hí hửng, bím dẻ sứ đoàn, làm cho sứ đoàn càng thêm khó ở. Do đó những cuộc tiếp đãi mà phía Pháp đã chuẩn bị, sứ đoàn đều từ chối một cách khéo léo. Sứ đoàn không muốn xuất hiện trước công chúng Pháp nữa. Sứ đoàn thấy thụ động, xa vời với những lâu đài tráng lệ, phố chợ đông đúc, quân đội hùng mạnh của Pháp. Không khí buồn thảm của sứ đoàn đã tác động đến những người Pháp từng thấy việc chiếm đất ở vùng Viễn Đông xa xôi tốn kém không cần thiết, muốn vận động chính phủ Pháp trả lại đất cho nước Đại Nam để lấy tiền chuộc. Trong các cuộc tiếp xúc riêng, họ hỏi sứ đoàn một cách kín đáo vì sao sứ đoàn có vẻ tiêu cực đến thế, và họ được biết sứ đoàn thất vọng vì ba chữ “phải có sợ” của Napoléon III qua lời dịch của Aubaret. Sau gần một tháng sứ đoàn mới hiểu ra Aubaret có đầu óc thực dân, ông ta đã dịch sai lời cuối của Napoléon III. Dịch cho thật đúng ý vua Pháp là:

- Nhưng những kẻ nào cản trở bước tiến của nước Pháp thì cũng nên dè chừng.

Không phải lần đầu vua Pháp sử dụng câu nói đó để nói với nước Đại Nam. Với tư cách là một nước lớn hùng mạnh, vua Pháp đã sử dụng câu đó nói với nhiều nước, ngay cả với các nước đang tranh giành ảnh hưởng với nước Pháp trên trường quốc tế. Còn chuyện ngoai giao với Đại Nam vua Pháp đã giao cho Chính phủ Pháp tiếp tục bàn. Sau khi hiểu rõ như thế sứ đoàn Phan Thanh Giản mới thở phào nhẹ nhõm, yên tâm hoàn tất các công việc còn lại trên đất Pháp để đến ngày 8-11-1863 rời nước Pháp đáp tàu qua Madrid (Tây Ban Nha).

Nhắc lại một vài chuyện cũ, chỉ mới cách đây đúng 140 năm( 1863-2003) thôi mà sao ta thấy nước ta hồi ấy nghèo nàn, thua thiệt, yếu đuối, lạc hậu đến thế! Sang Tây ngoại giao mà không biết tiếng Tây làm cho chính những người trong cuộc lúc ấy cũng xấu hổ chứ đừng nói chi đến thời đại chúng ta. Tuy nhiên, qua đó chúng ta cũng thấy được trong bất cứ hoàn cảnh nào người Việt Nam cũng không chịu để mất nước, trong hoàn cảnh nào người Việt Nam cũng không để mất tư cách làm nhục quốc thể.

Mùa Xuân 2003 -Cập nhật thay hết ảnh cũ 9-2013

Nguyễn Đắc Xuân

Một vài hình ảnh những người tháp tùng phục vụ Sứ đoàn:

Hai ảnh bên trái: Quan van Chánh thất phẩm Bộ Lại (người Quảng Bình, 31 tuổi) & hai ảnh Hai ảnh bên phải: Võ công Đô úy Lương Văn Thái  quan võ tòng Ngũ phẩm  (người Quảng Na, 43 tuổi)

Phòng ngự sứ Nguyễn Hữu Thận- quan võ, tòng Ngũ phẩm (30 tuổi, người Thừa Thiên), Hạ sĩ Nguyên tóc dài 1m58 (36 tuổi, người Thừa Thiên) & Ông Hiếu trong trang phục của lính hầu (45 tuổi, người Huế)

Tất cả hình ảnh trong bài viết nầy do Nguyễn Đắc Xuân sưu tập từ trang Web: http://www.flickr.com/photos

Nguồn: Tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, Số 448, Xuân Quý Mùi 2003, tr.20-25, đã thay tất cả ảnh cũ.


(1) Các thành viên trong sứ đoàn:

Vua Tự Đức cử: Chánh sứ: Phan Thanh Giản (Hiệp Biện Đại học sĩ), Phó sứ: Phạm Phú Thứ (Lại bộ Tả Tham tri); Bồi sứ: Ngụy Khắc Đản (án sát tỉnh Quảng Nam). Quan phụ trách Lễ vật: Nguyễn Văn Chất; Hai thư ký: Hồ Văn Long và Trần Văn Cư; Bốn văn nhân: Hoàng Ky, Tạ Hữu Kế, Phạm Hữu Độ, Trần Tế; Thông dịch viên: Nguyễn Văn Trường; Hai võ quan: Nguyễn Mậu Bình, Hồ Văn Huân; Bốn sĩ quan tháp tùng: Nguyễn Hữu Tước, Lương Văn Thể (Thái), Nguyễn Hữu Thận, Nguyễn Hữu Cấp; Hai y sĩ: Nguyễn Văn Huy, Ngô Văn Nhuận; Hai mươi lăm lính; 19 người giúp việc.

Thực dân Pháp cử: Thông ngôn hạng nhất: Pétrus Trương Vĩnh Ký; Thông ngôn hạng nhì: Pétrus Nguyễn Văn San; Nho sĩ hạng nhất: Tôn Thọ Tường; Nho sĩ hạng nhì: Phan Quang Hiếu; Học sinh trường d’ Adran: Nguyễn Văn Luôn và Simon Của; 3 người giúp việc.

 

 
 
Các bài Vua quan triều Nguyễn khác
Các bài Nghiên cứu