Phải chăng ông Hải Âu và các nhà báo Hoàng Ngọc Châu, Tú Anh “đâm lao nên phải theo lao” ?
Sau bài báo “Sự thật chỉ có một, không nên đùa dai...” (Lao Động Cuối Tuần, số 147, 9.6.2002), tôi tưởng đã đủ chứng cứ bác bỏ những điều ông Hải Âu đã bịa đặt có liên quan đến những ngày cuối cùng của vua Hàm Nghi ở nước ngoài. Không ngờ hai tác giả Hoàng Ngọc Châu-Tú Anh vẫn làm ngơ trước chứng cứ lịch sử ấy mà tiếp tục bám vào “trí nhớ” của ông Hải Âu để viết thêm bài “Ông Nguyễn Đắc Xuân mới là người “đùa dai”, vì quá muốn độc quyền lịch sử” trên An Ninh Thế Giới Cuối Tháng (số 10, Tháng 6-2002, tr.9). Những ai đã đọc bài báo vừa đề cập hẳn đã thấy bản chất của hai nhà báo Hoàng Ngọc Châu và Tú Anh như thế nào rồi, tôi không tiện bình luận thêm làm mất thì giờ bạn đọc.

Những gì hai nhà báo dạy dỗ, xuyên tạc, tố giác, thách đố, hăm dọa cá nhân tôi, tôi xin nhận cho riêng mình giống như khi đi ngoài đường bị một chú nhóc đi trái đường đụng phải, tôi lặng lẽ phủi áo đi tiếp, cãi cọ phải trái làm gì vừa mất công mình vừa làm bận lòng khách qua đường. Là một người cầm bút, ham thích sử học, tôi chỉ quan tâm đến thông tin - tư liệu lịch sử. Với ý thức như thế, đọc bài báo vừa rồi của hai tác giả tôi có ý kiến như sau:

1.Hai tác giả viết: “Ngay cả sau khi nhận được thư của Công chúa Như Lý khẳng định là theo bà, Vua Hàm Nghi mất ngày 14.1.1944, ông Nguyễn Hải Âu vẫn trước sau như một tin vào trí nhớ và những gì trong sổ tay của mình.”(cuối cột 2). Nếu Công chúa Như Lý có viết thư cho ông Hải Âu (?) và cho biết vua Hàm Nghi đã mất vào 14.1.1944 như đoạn báo trên thì chuyện lâu nay tôi nói vua Hàm Nghi mất vào ngày tháng năm ấy (14.1.1944) là có căn cứ từ gia đình vua Hàm Nghi chứ không phải do tôi bịa ra. Ông Hải Âu dựa vào trí nhớ và “những gì ghi trong sổ tay” (?). Nếu Công chúa Như Lý cũng nói bà và chị em bà đã dựa vào lời kể của mẹ, dựa vào sổ tang, dựa vào giấy báo tử với chính quyền Alger, vào bao lần kỵ giỗ, dời mộ, khắc bia... thì bên nào đáng tin hơn? Đến đây không còn chuyện tranh luận giữa tôi với ông Hải Âu nữa mà là chuyện của ông Hải Âu với Công chúa Như Lý. Thông tin nào đáng tin cậy hơn xin dành cho bà con Nguyễn Phước tộc và các nhà sử học chọn lựa.  

2. Hai nhà báo dạy bảo tôi về “đạo làm con của dân tộc Việt” và “đạo làm vợ” rồi khẳng định: “Trong đám tang (vua Hàm Nghi) đó không thể có cha cố hay đại diện của Tòa tổng giám mục địa phận Alger như ông Xuân nói”. Các tác giả đã suy luận từ ý thức và hoàn cảnh của người Việt Nam bây giờ, chứ không hề căn cứ trên bất cứ một tài liệu lịch sử nào. Thế thì làm sao khớp với hoàn cảnh của vua Hàm Nghi ở Alger hồi nửa đầu thế kỷ XX được! Sự thực như thế nào? Tôi xin nêu: Tôi đã đứng trước bàn thờ vua Hàm Nghi tại lâu đài De la Nauche (1.1999), tôi đã thấy trên bàn thờ ông có treo Thánh giá; tôi cũng đã thấy lăng mộ vua Hàm Nghi tại Dordogne cũng dựng một Thánh giá. Năm 1904, vua Hàm Nghi cưới bà Laloe ông đã chịu lễ Ban ơn phước thành hôn tại Tòa Tổng Giám mục Alger. Công chúa Như Lý cho tôi một tấm Bưu ảnh với lời chú thích gốc rằng :“Le mariage du Prince d’Annam. Le Prince et la Princesse d’Annam sortant de l’Archevêché d’Alger, après la bénédiction nuptiale” (Dịch: Đám cưới của ông Hoàng An Nam. Sau lễ Ban ơn phước thành hôn, ông Hoàng và bà Hoàng An Nam ra khỏi Toà Tổng Giám mục Alger). Từ lúc bước chân lên Alger cho đến khi cưới vợ mới có 15 năm (1889-1904) mà vua Hàm Nghi đã “chịu ban ơn phước thành hôn” ở Tòa Tổng Giám mục rồi, bốn mươi năm sau (1904-1944) ông qua đời, lẽ nào Tòa Tổng Giám mục lại không đến điếu tang, không đến chia buồn với con chiên (bà Laloe) của họ? Đây là suy luận dựa trên tư liệu lịch sử và điền dã, độc giả hẳn có thể liên tưởng được.

Tại lâu đài de la Nauche, tác giả giải thích với CC Như Lý hiểu rõ hơn về nội dung một tấm ảnh lịch sử liên quan đến Ngày thất thủ Kinh đô ở Huế 7-1985. Ảnh HVT

3. Để thấy ai xuyên tạc sự thật tôi xin dẫn lại nguyên văn đoạn mở đầu lá thư Công chúa Như Lý gởi cho ông Âu như sau: “Monsieur. J’ai bien recu votre lettre du moi dernier. Je vous en remercie. Mais ne peux pas vous situer par rapport à mes parents ! l’ Algérie était très isolée de la France pendant la guerre du 40 ” Tôi đã dịch sát nghĩa là: « Kính ông, tôi đã nhận đươc thư ông viết từ tháng trước. Tôi cám ơn ông về lá thư ấy. Nhưng tôi không thể định vị trí (situer) của ông trong mối quan hệ với cha mẹ tôi. Nước Algérie rất cách biệt với nước Pháp trong chiến tranh những năm bốn mươi...”

Trích thư của CC Như Lý trả lời thư ông Hải Âu. TL trên báo ANTG.

(Theo tôi hiểu trong lá thư gởi cho bà Như Lý, ông Hải Âu đã kể lại mối quan hệ của ông với ông bà Hàm Nghi ở Algérie và đề nghị Công chúa Như Lý xác nhận cho ông. Nhưng bà Như Lý từ chối vì lẽ lúc ấy bà đang ở Pháp, mà Algérie thì bị cô lập đối với nước Pháp trong chiến tranh những năm bốn mươi, nên bà không biết gì về mối quan hệ đó nên không thể xác nhận được, chứ không phải bà không biết gì về đám tang của thân sinh bà).

Trong bài báo trước, ông Âu đã dịch đoạn thư trên cho nhà báo Tú Anh là: “Tôi hoàn toàn không biết gì về cái chết của cha tôi cũng như những biến cố xảy ra giữa Pháp và Algérie vào thập niên 40”.

Trong bài “Sự thật chỉ có một, không nên đùa dai...” (Lao Động Cuối Tuần, số 147, 9.6.2002), tôi đã phê phán đoạn dịch trên là “xuyên tạc sự thật ”, Tú Anh không biết Pháp ngữ nên đã bị ông Âu lừa. Để có thể tiếp tục theo cây lao của mình đã đâm, hai tác giả “đã mang lá thư ... nhờ ông Phạm Phú Bằng,...một người có thể đọc thông viết thạo tiếng Pháp dịch sang tiếng Việt”. Nhưng hai tác giả không cho đăng bản dịch của ông Bằng lên báo (vì sao?) mà chỉ nói đến nhận xét của ông Bằng :“...lá thư nầy được viết tắt về nội dung và lại viết theo văn nói nên chỉ có hai người là người viết và người đọc mới hiểu hết được. Trên cơ sở đó, ông Bằng cho rằng là người trong cuộc, biết rõ nội dung thông tin từ lá thư đầu tiên cho nên cách dịch đại ý của ông Âu đối với lá thư của bà Như Lý có thể thoát ý hơn. Còn cách dịch của ông Xuân, đó là cách dịch máy móc có chủ định xấu của người ngoài cuộc không theo đúng ý cũng như văn cảnh” (cột 3). (Tôi có quen ông Bằng và biết ông là người đứng đắn thận trọng, tôi tin ông Bằng không nói nguyên văn như thế. Nhưng cho đến bao giờ ông Bằng chưa có ý kiến cải chính thì ông vẫn chịu trách nhiệm trước độc giả, tôi không tiện bình luận thêm).

Được ông Bằng dịch và có nhận xét như thế vẫn chưa đủ, hai tác giả còn nhờ đến: “ông Lưu Văn Lợi, một người mà kiến thức Pháp ngữ nằm ngoài mọi sự hoài nghi, có thể hiểu câu mà ông Xuân đã chủ định bóp méo trong thư Công chúa Như Lý là :“Thế mà tôi không xác định được mối liên hệ giữa ông và cha mẹ tôi. Có thể là vì Algérie bị tách biệt khỏi nước Pháp trong những năm 40”. (cột 3) (Nếu có ông Lưu Văn Lợi người mà kiến thức Pháp ngữ nằm ngoài mọi sự hoài nghi dịch đoạn thư ngắn trên như thế thì sự nghiệp francophone tại Việt Nam đã đến hồi mạt vận). Qua những trích dẫn trên có lẽ độc giả có thể chỉ tên ai là người bóp méo sự thực rồi.

4. Chứng minh cho luận điệu Công chúa Như Lý cũng có thể nhầm lẫn, các tác giả viết: “Bản thân Công chúa Như Lý cũng nhầm lẫn giữa Tôn Thất Thuyết, một vị quan phụ chính đại thần đã can thiệp để bảo vệ Vua Hàm Nghi khi bị đi đày thành Tôn Thất Thiệp trong một lá thư gửi cho ông Hải Âu vào ngày 8.4.2001” (cột 2). Công chúa Như Lý không biết tiếng Việt nên khi nghe phát âm Việt “Thuyết” nhầm với “Thiệp” (nếu có) là chuyện bình thường. Sự kiện vua Hàm Nghi bị bắt (30.10.1888) xảy ra tại núi rừng Quảng Bình trước khi Công chúa Như Lý ra đời (1908) hai mươi năm, có thể Công chúa chưa đọc sử Việt Nam nên hiểu sai (nếu có) cũng là điều dễ hiểu. Điều khó hiểu là hai nhà báo viết cho An Ninh Thế Giới Cuối Tháng giữa Thủ đô Hà Nội thời mở cửa mà không biết chuyện Tôn Thất Thuyết sau khi tổ chức cho vua Hàm Nghi ổn định ở miền tây Quảng Bình xong bèn giao cho hai con là Tôn Thất Tiệp và Tôn Thất Đàm ở lại phò vua Hàm Nghi còn bản thân ông sang Trung Quốc cầu viện (Khoảng tháng 2-1887). Mãi mấy năm sau vua Hàm Nghi mới bị Trương Quang Ngọc làm phản bắt vua nộp cho Tây. Tôn Thất Tiệp (Thiệp) đang ngủ sực tỉnh vùng dậy xách gươm bảo vệ vua thì bị bọn làm phản đâm chết tại chỗ. Lúc ấy làm gì còn Tôn Thất Thuyết ở Việt Nam nữa mà lo “can thiệp để bảo vệ vua Hàm Nghi khi bị đi đày” ? Các tác giả không hiểu lịch sử mà dám phán là Công chúa Như Lý nhầm.

          ......

Mỗi lần thấy bạn bè lứa tuổi con tôi bây giờ giỏi hơn chúng tôi ngày xưa nhiều, tôi lại thấm thía câu :“Hậu sanh khả úy”. Nhưng không hiểu sao, khi viết loạt bài tranh luận với hai nhà báo Hoàng Ngọc Châu và Tú Anh về “nhân chứng lịch sử Hải Âu” tôi cũng nhớ câu ấy. Các tác giả không đọc được Pháp ngữ, kiến thức lịch sử phổ thông có nhiều sai lạc, không phân biệt được “chân’, “giả” mà dám lao vào một vấn đề lịch sử có liên quan đến hai nước Việt - Pháp, thì quả là liều thật và đáng sợ thật. Hay là vì ông Hải Âu và các tác giả theo ông đã đâm lao nên phải theo lao với bất cứ giá nào?

Gác Thọ Lộc, sáng 25.6.2002

Nguyễn Đắc Xuân

 

 
 
Các bài Vua quan triều Nguyễn khác
Các bài Vua quan triều Nguyễn