Chuyện chẳng đặng đừng
Cách đây gần 30 năm, Tạp chí Sông Hương số 14 xuất bản vào tháng 8 năm 1985, từ trang 81 đến trang 85 đăng bài "Những ngày cuối cùng của vua Hàm Nghi" của ông Nguyễn Hải Âu. Bài viết được độc giả rất quan tâm và nếu tôi nhớ không nhầm thì sau đó bài ấy đã được Tạp chí Sông Hương trao giải thưởng. Nhưng đối với tôi là một nhà nghiên cứu Triều Nguyễn và Huế xưa, tôi thấy nghi ngờ nhiều thông tin trong bài viết của Nguyễn Hải Âu. Tôi có viết một bài gởi cho Ban biên tập T/c Sông Hương với tựa đề: Nhân một bài hồi ký góp ý với người biên tập loại bài tư liệu lịch sử. Tạp chí xin nhận bài góp ý và trao đổi nội bộ chứ không đưa lên Sông Hương. Tôi rất tiếc là độc giả từng thích bài viết của ông Hải Âu không được tham khảo thêm để biết những sai sót của bài viết.

Mãi sau nầy tôi mới gom in lại bài góp ý đó trong tập Nghiên cứu Triều Nguyễn và Huế xưa tập II. Tập Nghiên cứu nầy tôi có tặng cho T/c Sông Hương. Tưởng như thế cũng đã nhắc nhở được những người biên tập của T/c Sông Hương. Không ngờ Ban Biên tập T/c Sông Hương khi số hóa lại chồng báo cũ để đưa lên trang Web của Sông Hương chỉ bỏ bớt vài chi tiết nhỏ, hầu như vẫn giữ nguyên bài viết cũ của Nguyễn Hải Âu. Để làm mới bài viết cũ, những người biên tập lấy tấm ảnh quý chân dung vua Hàm Nghi do tôi sưu tập ở Pháp đăng trên báo Hồn Việt chèn vào bài viết của Nguyễn Hải Âu. T/c Sông Hương số 14 được post lên địa chỉ http://tapchi songhuong.com.vn/tap-chi/c236/So-14-T-8-1985.htm. Sau đó ai vào tra cứu vua Hàm Nghi trên Google đều nhận ngay được bài Những ngày cuối cùng của vua Hàm Nghi của Nguyễn Hải Âu. Như thế những sai lầm trong lịch sử liên quan đến vua Hàm Nghi những năm tháng ở chốn lưu đày được giữ lại vĩnh viễn trên mạng toàn cầu. Nếu không có những phản biện khoa học phục hồi lại sự chân thực lịch sử thì đời nầy và nhiều đời sau sẽ còn bị lừa mãi. Do đó, “chuyện chẳng đặng đừng” tôi phải trở lại phản biện bài viết nầy với những chi tiết cụ thể có liên quan đến vua Hàm Nghi. Những chi tiết sai lầm của ông Nguyễn Hải Âu trong bài viết không liên quan đến vua Hàm Nghi tôi không quan tâm.

Tôi giữ nguyên văn bài viết của Nguyễn Hải Âu đăng trên trang Web của T/c Sông Hương nêu trên. Tôi dừng lại những chi tiết cần phải phản biện, gạch dưới những chi tiết đó và đưa vào phần bình luận ngay phía dưới. Bình luận xong tôi lại đọc tiếp và bình luận tiếp cho đến cuối bài. Kính  mong độc giả ủng hộ cách phản biện nầy của tôi. Đa tạ.    

Những ngày cuối cùng của vua Hàm Nghi

10:51 | 22/04/2011

L.T.S: Ông Nguyễn Hải Âu quê ở Hà Nam Ninh. Năm 1941 ông đi lính bị đưa sang Pháp rồi sang Alger. Ở Pháp và Alger ông tham gia lãnh đạo phong trào phản chiến nên bị đưa sang Calcutta, không cho hồi hương.

Những ngày cuối cùng của vua Hàm Nghi

Di ảnh vua Hàm Nghi do cụ Ưng Thi giao cho Nguyễn Đắc Xuân lưu giữ - Ảnh: honvietquochoc.com.vn

Năm 1945 ông được tiếp kiến Hồ Chủ tịch và Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhân chuyến Bác và Thủ tướng đi dự hội nghị Fontainbleau trở về ghé Calcutta. Sau đó ông được can thiệp cho hồi hương. Trở về nước ông tham gia kháng chiến ở liên khu 7, rồi liên khu 3 và chiến dịch Điện Biên, làm công tác binh vận. Năm 1954 ông chuyển ngành và năm 1975 ông nghỉ hưu.

Thời ở Alger ông thường lui tới thăm vua Hàm Nghi và trở thành một người thân tính nhất của nhà vua. Khi nhà vua mất ông là người chủ trì tang lễ. Những trang hồi ký chúng tôi giới thiệu dưới đây ghi lại ngày đó.


Bình luận: Thời ở Alger ông thường lui tới thăm vua Hàm Nghi và trở thành một người thân tính nhất của nhà vua. Khi nhà vua mất ông là người chủ trì tang lễ”. Lời giới thiệu nầy Tạp chí Sông Hương khẳng định những thông tin trong bài của ông Nguyễn Hải Âu là đúng sự thật. Do đó những sai trái trong bài viết của ông Hải Âu (Nếu có) Tạp chí Sông Hương chịu một phần trách nhiệm.


Chỉ còn tiếng thông reo vi vút, nức nở trên từng con đường da diết xót thương một cuộc đời dằng dặc căm thù uất hận đó dài bằng sáu mươi năm biệt xứ.

Biệt thự Gia Long, nơi cụ ở được xây dựng trên khu đồi El-Biar mênh mông, vượt qua hàng trăm quả đồi thấp bé khác, chiếm lĩnh đỉnh cao chót vót cách thành phố Alger mười hai cây số.


Bình luận: Ông NHA viết “Biệt thự Gia Long, nơi cụ ở được xây dựng trên khu đồi El-Biar mênh mông, vượt qua hàng trăm quả đồi thấp bé khác, chiếm lĩnh đỉnh cao chót vót cách thành phố Alger mười hai cây số”. Sự thực như thế nào?

Đại úy Charles Gosselin trong tác phẩm Le Laos et Le Protectorat Francais đã dành một chương viết về việc tác giả viếng thăm vua Hàm Nghi ở Alger mang tựa đề : «La Cour d’Annam en fuite dans la provine » tại trang 160 có đoạn  viết: «L’Ancien roi Ham Nghi, aujourd’hui  le prince d’Annam, car c’est le nom sous lequel il est connu, habite la Villa des Píns, à quelques kilomètres d’ Alger, au village  d’El Biar, sur les riants coteaux de Mustapha Supérieur » (Dịch: Cựu hoàng Hàm Nghi, ngày nay là Hoàng thân An Nam, bởi lẽ đó là cách gọi mà ông được biết đến, ông hiện ở Biệt thự Ngàn Thông (có người dịch là Tùng Hiên), cách Alger vài cây số, thuộc làng El Biar, ở trên dãy đồi Mustapha Supérieur.       

Nếu ông NHA đã đến Biệt thư Ngàn Thông (sau đổi thành Biệt thự Gia Long) thì không thể nhầm Biệt thự Gia Long thuộc làng El Biar lại “chiếm lĩnh trên đồi cao chót vót” và không thể nhầm Biệt thự Gia Long cách Alger vài cây số thành con số phóng đại là 12 cây số.


Trên quả đồi trùng điệp, những hàng thông, cũng như cây cổ thụ, những cành trĩu quả rải ra từng từng lớp lớp. Trong khu vườn nhỏ, có rất nhiều hoa, quanh ngôi đền trang trí Long, Lân, Qui, Phượng, có cầu qua suối róc rách đêm ngày. Xa xa cửa biển Alger lờ mờ xanh trắng lọt thỏm xuống tưởng chừng thăm thẳm vô tận. Chân trời mờ mịt như bức thành kiên cố, đã từ bao giờ, có lẽ từ đời đời kiếp kiếp vững chãi chặn đứng những lớp sóng hung hãn.

Mặt trời mọc ở phía ấy. Nấm mồ hướng về phía ấy. Phía ấy có Tổ quốc Việt Nam, có mảnh đất thân thương còn quằn quại dưới gót xâm lăng của bọn giặc Pháp Nhật. Phía ấy là khát vọng, là nỗi đau xót triền miên trên sáu mươi năm day dứt của người vừa nằm xuống.
Hương đã tàn từ lúc nào trên nấm mộ, mọi người ra về từ lúc nào, chỉ còn tôi đứng đó trước nấm mộ của người, vừa là bạn tâm tình, vừa là ông, là cha: cụ Hàm Nghi, một khuôn mặt yêu nước, bất khuất kiên cường đã từ giã cuộc đời uất hận. Ngày ấy, 24 tháng 12 năm 1943. Cụ thọ 74 tuổi.


Bình luận: Ông NHA viết: Cụ Hàm Nghi ”vừa là bạn tâm tình, vừa là ông, là cha […] đã từ giã cuộc đời uất hận. Ngày ấy, 24 tháng 12 năm 1943. Cụ thọ 74 tuổi.

Vua Hàm Nghi sinh năm 1871, ông Nguyễn Hải Âu sinh năm 1915 (theo lời giới thiệu trên T/c Sông Hương năm 1985), nhỏ hơn vua Hàm Nghi 44 tuổi, nhỏ hơn con út của vua Hàm Nghi (Hoàng tử Minh Đức sinh năm 1910) đến 6 tuổi, anh thanh niên Việt  Hải Âu bị thực dân Pháp (kẻ thù của vua Hàm Nghi) bắt lính đưa qua châu Âu lấy cái cơ sở gì để anh được làm người bạn tâm tình của vua Hàm Nghi? Thời ấy và cả thời nay cũng vậy, một anh lính như thế đến nhà một Hoàng tộc lớn như thế, may lắm là được cho gác cửa hoặc làm vườn mà thôi. Ông Hải Âu hư cấu chi tiết một anh lính thuộc địa của Tây là bạn tâm giao của vua Hàm Nghi là hạ thấp vị thế của vua Hàm Nghi, xúc phạm những người yêu quý vua Hàm Nghi.  Rất tiếc là Ban biên tập T/c Sông Hương không quan tâm chi tiết nầy.

Ông NHA viết vua Hàm Nghi mất vào “24 tháng 12 năm 1943. Cụ thọ 74 tuổi.Vua Hàm Nghi sinh năm 1871, nếu mất năm 1943 thì vua Hàm Nghi chỉ thọ: 1943-1871= 72 tuổi. Thế mà NHA lại viết tiếp “ Cụ thọ 74 tuổi". Biên tập T/c Sông Hương cũng không thấy chi tiết sai rất sơ đẳng nầy để biên tập.  

T/s Sông Hương giới thiệu “Khi nhà vua mất ông là người chủ trì tang lễ”. Nếu đúng như thế thì làm sao gia đình vua Hàm Nghi lại khắc năm mất của vua Hàm Nghi trên bia mộ là năm 1944 như dưới đây.

Sự thật vua Hàm Nghi thọ 73 tuổi Tây (1944-1871= 73). Nếu tính theo tuổi Việt Nam thì vua Hàm Nghi mới thọ 74 tuổi.


Tôi vẫn đứng đấy, đầu óc lúc loãng ra khi đặc lại, mờ mờ ảo ảo, bâng khuâng nhớ đến giọng nói trầm trầm, nụ cười hiếm hoi mà khắc nghiệt, nhớ đến những buổi hai ông cháu tha thẩn trong vườn lo lắng bàn bạc đến số phận và tương lai đất nước.


Bình luận: Ông NHA viết:” …nhớ đến những buổi hai ông cháu tha thẩn trong vườn lo lắng bàn bạc đến số phận và tương lai đất nước.”

Gia đình vua Hàm Nghi được xem là một đại quý tộc ở Alger lúc ấy. Hai người con gái là hai đại gia ở Pháp (làm chủ nhiều lâu đài), con trai là sĩ quan cấp tá của Pháp, một lãnh tụ, một quan chức cao cấp đã từng nổi tiếng yêu nước nếu họ đến thăm chắc gì đã được vua Hàm Nghi tiếp và bàn chuyện quốc sự, đời thuở nào nhà vua lại đi bàn việc nước với một anh lính thuộc địa của Pháp một cách ngây ngô đến thế? Một người không hiểu gì đời sống các Hoàng tộc, các đại gia, các tướng tá của Pháp lúc ấy mới dám hư cấu một chi tiết vô cùng dễ dãi sai sự thực và hỗn láo đến như thế. Phải chăng ông NHA mắc bệnh hoang tưởng? Điều lạ là Ban biên tập T/c Sông Hương không thấy sự hoang tưởng nầy! 


Tôi vẫn đứng đấy, tâm hồn phiêu diêu cùng cụ bay về những cánh đồng vàng ối hay xanh rờn, về núi Ngự sông Hương, về Hà Nội thân thương có hồ Hoàn Kiếm, có giải sông Hồng đỏ lòm máu giặc thuở nào.

Quê hương ơi! Chỉ có quê hương ta mới có những mái nhà tranh cổ sơ ấm cúng thơm thơm mùi trấu dấm theo dòng khói từ mái bếp tuôn lên.

Hỡi những chiếc cổng tre xiêu xiêu chờ đón những đứa con tha phương! Hỡi những chiếc cầu những con thuyền nằm phơi bến cũ! Ôi! Hết thảy, hết thảy quý giá vô cùng. Hết thảy gợi lên nỗi nhớ nhung quê hương da diết. Biết bao giờ mới được thấy lại mùi mồ hôi chua chua tỏa ra từ những chiếc áo nâu sồng? Hay mùi phân trâu hăng hắc sau trận mưa giông?

Bỗng bà Hàm Nghi và Minh Đức, con trai bà đến dẫn tôi lên nhà cách đó vài trăm thước. Chúng tôi lặng lẽ đi.


Bình luận: [Ông NHA viết: ”Bỗng bà Hàm Nghi và Minh Đức, con trai bà đến dẫn tôi lên nhà cách đó vài trăm thước.  Bà Hàm Nghi là một phu nhân quý tộc, Hoàng tử Minh Đức là một sĩ quan cấp tá mà đi phục vụ hướng dẫn cho một anh lính thuộc địa Pháp được sao?  Sự thực không làm gì có chuyện đó bởi vì khi vua Hàm Nghi qua đời (1-1944) Hoàng tử Minh Đức đang tòng sự ở Ma Rốc và hai người chị của ông là CC Như Mai và CC Như Lý đều ở Pháp dưới chế độ Pétain thân Hitler không thể về Alger dựa đám tang vua cha Hàm Nghi được. Chuyện NHA gặp Hoàng tử Minh Đức là chuyện bịa hoàn toàn.]


Đám tang cụ Hàm Nghi tổ chức theo nghi lễ và tập quán Việt Nam. Cụ mặc áo gấm vàng, chít khăn đỏ. Vải vóc này lấy ra từ trong những chiếc hòm vuông sơn son thếp vàng từ thời xưa. Vải có đủ loại: gấm, vóc, đoạn, the v.v… cuộn tròn từng cây có ghi tên người tặng: Trần Văn Thống, Trần Tấn Bình, Bùi Quang Chiêu v.v… nhưng không bao giờ dùng đến.

Ban đầu, việc chôn cất có bất đồng ý kiến. Bà Hàm Nghi muốn đưa ra nghĩa trang, tôi đề nghị chôn cất trong vườn gần lâu đài cho tiện việc thăm viếng. Hơn nữa, đưa ra nghĩa trang thì thế nào cũng có một thập tự giá đè lên nương hồn cụ! Bà hiểu ra, đã mau chóng nhượng bộ.


Bình luận: Ông NHA viết  “Ban đầu, việc chôn cất có bất đồng ý kiến. Bà Hàm Nghi muốn đưa ra nghĩa trang, tôi đề nghị chôn cất trong vườn gần lâu đài cho tiện việc thăm viếng. Hơn nữa, đưa ra nghĩa trang thì thế nào cũng có một thập tự giá đè lên nương hồn cụ! Bà hiểu ra, đã mau chóng nhượng bộ”. Bà Hàm Nghi là người theo đạo Thiên chúa từ nhiều đời, đám cưới của bà và vua Hàm Nghi được tổ chức ở nhà thờ, các con bà đều theo đạo Thiên chúa thì khi vua Hàm Nghi qua đời bà Hàm Nghi không thể không tổ chức theo nghi lễ Thiên chúa giáo dù vua Hàm Nghi chưa bao giờ rửa tội. Anh lính thuộc địa Nguyễn Hải Âu là cái thớ gì mà có thể có ý kiến ngược với ý kiến của bà đại quý tộc Hàm Nghi về sự kiện quan trọng nhất của gia đình bà là việc tang lễ của vua Hàm Nghi? Hư cấu chi tiết nầy NHA chứng tỏ cho người đọc thấy vai trò quan trọng của anh lính thuộc địa trong gia đình vua Hàm Nghi. Có lẽ chưa bao giờ NHA được xem tấm ảnh cây thánh giá trên mộ vua Hàm Nghi ở làng Thonac/Pháp dưới đây:

Ngôi mộ cải táng có cây Thánh giá, thì ngôi mộ gốc ở Biệt thự Gia Long ở Alger/Algérie cũng có cây Thánh giá thế thôi. Bà Hàm Nghi nghe theo lời của NHA sao lại có cây Thánh giá ấy? NHA viết chi tiết nầy lộ rõ ông đã hư cấu thái độ của bà Hàm Nghi theo ý ông.


Đi đưa đám có đại diện của Chính phủ Pháp và một số ít bạn bè hầu hết là những nhà quý tộc lưu vong; những ông hoàng bà chúa Nga, Hà Lan, Anh, Pháp v.v… và rất đông người Việt. Một trung đoàn lính Việt đóng cách đó mười cây số bất chấp kỷ luật tự động nghỉ, kéo đến dự lễ tang.


Bình luận: [Ông NHA viết  “Một trung đoàn lính Việt đóng cách đó mười cây số bất chấp kỷ luật tự động nghỉ, kéo đến dự lễ tang.”  Chúng ta biết một Trung đoàn lính có ít nhất 1.200 người. Nếu có 1.200 lính bất chấp kỷ luật như thế là một sự kiện chính trị quan trọng ở Alger. Lại là một chi tiết hoang tưởng. Sự thật thì như CC Như Lý đã trả lời Nguyễn Vũ Tú Anh, bài đã đăng trên chính T/c Sông Hương số 162 tháng 8-2002, như sau:

Hỏi: Kính bà cho biết vua Hàm Nghi mất ngày tháng năm nào, đám tang ra sao, có người Việt bên Pháp qua dự không?

CÔNG CHÚA NHƯ LÝ: Vua Hàm Nghi mất vào ngày 14 tháng 1 năm 1944 tại Alger. Nhà vua mất vì bịnh ung thư dạ dày. Lúc đó các con vua Hàm Nghi đều ở Pháp. Nước Pháp đang bị quân Đức của Hitler chiếm đóng nên không một người con nào có thể ra khỏi Pháp để qua Alger dự đám tang của vua Hàm Nghi được cả. Ngoài những người Việt phục vụ vua Hàm Nghi ở bên Việt cử qua từ trước, không một người Việt nào khác có mặt trong đám tang vua Hàm Nghi. Nên nhớ lúc ấy chính quyền Pháp do Pétain thân Hitler đứng đầu kiểm soát nước Pháp rất chặt chẽ, nên việc dân Pháp và dân thuộc địa của Pháp ra khỏi nước Pháp để sang Algérie là rất khó khăn. Mãi đến sau tháng 6.1944, quân Đồng Minh đổ bộ lên Normandi rồi nước Pháp được giải phóng, thì mới có người Việt làm việc cho Pháp có thể đến được Algérie. Đến tháng 6.1944 thì vua Hàm Nghi đã qua đời hơn nửa năm rồi.


Bọn sĩ quan Pháp đành làm ngơ, còn ve vãn chia buồn. Chúng rất sợ tinh thần đoàn kết của người Việt. Ở một vài đơn vị tại Pháp, Madagascar, Alger đã xảy ra vụ đánh trói chỉ huy, vụ chiếm lĩnh một doanh trại tại Pháp, kéo cờ xanh sao đỏ hàng tuần và mấy vụ mổ bụng những người cam tâm làm tay sai cho Pháp, lấy gan tế cờ.

***

Sinh năm 1872 tên húy là Ưng Lịch, vua Hàm Nghi lên ngôi ngày 10-6 năm Giáp Thân (31-7-1884) vào lúc trong nước rối ren, quân Pháp luôn luôn tìm cách gây hấn!


Bình luận: Hải Âu viết “Sinh năm 1872 tên húy là Ưng Lịch”. Nếu ông Hải Âu có đến mộ vua Hàm Nghi hẳn biết được vua Hàm Nghi sinh năm 1971 tại Huế’.


Trung tướng De Courcy được đưa sang làm Tổng trấn Trung Bắc kỳ quân vụ kiêm toàn quyền, là một tên hống hách ngang ngược làm cho triều đình và nhân dân ta vô cùng căm phẫn. Ngày 4-7, quân ta xông vào đồn Mang Cá đốt phá. Ông Tôn Thất Thuyết và Tôn Thất Liệt chia làm hai cánh phối hợp hành động, bắn đại bác sang sứ quán, nơi De Courcy và bè lũ đang tiệc tùng vui thú.

Phản ứng lại, quân Pháp đánh chiếm kinh thành. Ông Thuyết đưa vua và Tam cung (Bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ mẹ vua Tự Đức, bà Hoàng Thái Hậu Thuận Ý vợ vua Tự Đức, bà Học Phi vợ thứ vua Tự Đức) lên tạm trú ở Khiêm Cung, rồi đưa ra cửa Chương Đức, chạy lên ngã Thiên Mụ. Đạo Ngự gồm chừng một ngàn người.

Quân Pháp cướp được tám trăm mười hai đại bác, nhiều súng tay cùng gươm giáo. Theo phái viên hãng Havas đăng trên Le Tonkin de 1872 et 1886 của Jean Dupuis: “Trong năm ngày, tôi thấy chừng năm mươi người chuyên việc xếp chồng những thỏi vàng bạc. Vàng bạc ấy sẽ gửi về Pháp cùng các thứ bảo vật khác giá trị không thể tưởng tượng được”!

Trưa ngày 6-7-1885 xa giá đến Quảng Trị rồi lên Tân Sở tính mưu khôi phục. Đức Từ Dũ đòi trở về Huế, vua đành lạy tạ Tam cung rồi lên đường.

Tân Sở là nơi Tường và Thuyết lập nên để phòng việc thiên đô. Tân Sở nằm trên đường đi Lao Bảo - Mai Lãnh cách huyện Cam Lộ mười cây số, núi non hiểm trở. Từ hai năm về trước, hàng ngàn người dân phu đến đào hầm đắp lũy xây dựng cung điện trại lính, kho tàng. Lương thực từ các tỉnh Bắc Kỳ, Cửa Việt tải đến Tân Sở để phân phát đi các nơi.

Vua ra Hịch Cần vương kêu gọi toàn quốc đánh Pháp. Hịch Cần vương truyền đi một mồi lửa ném vào đống rơm được đông đảo triều thần, thân hào nhân sĩ và nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng. Khắp nơi nô nức mộ quân, đứng lên chống giặc làm cho Pháp vô cùng lúng túng.

Suốt hai năm Bính Tuất và Đinh Hợi cho tới khi bị bắt, vua Hàm Nghi ẩn náu ở miền thượng lưu sông Gianh thuộc Tuyên Hóa (Quảng Bình) với các cận thần Tôn Thất Đạm, Tôn Thất Liệt, Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân v.v… và chừng ba ngàn quân.

 Ngày 26 tháng 9 năm Mậu Tý, tên Nguyễn Đình Tính và tên Ngọc là hai hầu cận nhà vua ra đầu thú. Chúng vâng lệnh giặc Pháp dẫn hai mươi thủ hạ đến Tà Bao là nơi vua trú ẩn, đang đêm đột nhập. Tôn Thất Thiệp liều mình bảo vệ nhà vua đã bị chém trúng ngực chết ngay. Một đứa lách ra sau lưng ôm lấy nhà vua, đứa khác quỳ xuống đọc lá thư của đại úy Boulangier xin rước vua về kinh.

Sáng hôm sau 3-11-1888 chúng đưa nhà vua về đồn Thanh Lạng, được ít lâu chúng đưa nhà vua xuống tàu La Comète vào Sài Gòn, rồi đáp tàu Biên Hòa cập bến Alger ngày 13-1-1889. Hàng năm Nam triều trợ cấp hai mươi lăm ngàn quan, và cứ ba năm thay một người phục vụ.

Bà Blanche con viên đại tá tư lệnh Alger kể lại rằng:

“Vào một buổi chiều, tàu Biên Hòa cập bến, chờ làm thủ tục, tôi theo cha tôi ra đón ông Hoàng nhỏ bé ấy. Không hiểu sao tôi cảm thấy một nỗi buồn man mát động lòng trắc ẩn. Dưới bóng chiều chợp chờn, con tàu nhả khói phì phì dường muốn trút vơi nỗi nhọc nhằn trong cuộc hành trình. Một bóng đen nho nhỏ tựa vào lan can, đăm đăm nhìn ra phía chân trời. Người nghĩ gì? Điều chắc chắn là nỗi căm hờn người Pháp chúng tôi đang hừng hực dâng lên như những lớp sóng vô tận đuổi nhau ra khơi chẳng hay có về đến tổ quốc thiêng liêng của Người không?

Nỗi bất bình chiếm lĩnh trí óc tôi. Lòng thương vô hạn con người nhỏ bé ấy sớm bị nanh vuốt cú diều cuỗm đi xa tổ ấm, xa bầu đàn, xa những người thân càng làm tôi băn khoăn thao thức. “Ta phải sửa chữa lỗi lầm này!” Cha tôi chế nhạo tôi đến phát khóc, nhưng cũng khen tôi có trái tim vàng.

Tôi yêu cầu cha tôi đề bạt với phủ toàn quyền cho tôi được trông nom săn sóc người và đã được chấp thuận. Tôi từ bỏ ý định tiếp tục khoa luật, quanh quẩn bên con chim nhỏ bé của tôi. Buồn thay! Con chim ấy đã quên tiếng hót, âm thầm như cá chép (muet comme une carpe - ngạn ngữ Pháp) không nói năng đòi hỏi gì. Tình trạng ấy kéo dài mấy tháng, tôi xoay xở đủ cách cũng vô hiệu.

Một buổi nào đó, trăng luồn song cửa, ôi! Trăng kia mơ màng ảm đạm làm sao. Tôi ngồi trước dương cầm. Xin giới thiệu tôi là một nhạc công tồi, nhưng lúc ấy tôi cảm thấy cây đàn run run lên, dìu dặt ai oán. Nỗi buồn lướt trên phím như tiếng nức nở của con tim, khi vút lên căm hờn sôi sục. Tôi không nhớ đã chơi bản nhạc nào, điều đó không quan trọng. Đây là khúc nhạc lòng tôi, tấm lòng vị tha đầy nỗi bất bình và thương cảm.

Tiếng đàn dứt, tôi ngoảnh lại thấy người đứng sau tôi, cặp mắt long lanh. Tôi hỏi: Hoàng tử có ưa không? Người gật đầu. Có thích học đàn không? Người lại gật đầu. Tôi sung sướng, hôn người, từ đó con cá chép của tôi mở miệng. Có lẽ đó là hạnh phúc lớn nhất của đời tôi …

Vì sao người từ bỏ ngai vàng? Nếu người thuận theo trở lại ngôi báu thì người Pháp chúng tôi vui mừng biết chừng nào. Vì người được toàn dân sùng bái, toàn thể sĩ phu tôn thờ. Tôi hiểu rằng lòng yêu tổ quốc, yêu quê hương, yêu gia đình, yêu đồng loại cao hơn chiếc ngai vàng nhỏ bé. Tôi yêu nước Pháp tổ quốc tôi, nên rất trọng những người yêu mến tổ quốc họ”.

*

*         *

Người ta quen gọi cụ là ông Hoàng Annam (Le Prince d’Annam). Cụ Hàm Nghi có hai gái một trai. Cô chị Như Mai thạc sĩ canh nông, không lấy chồng để “trọn đời tưởng nhớ đến ba tôi”. Như Lý lấy một đại tá không quân dòng dõi hoàng tộc Bỉ. Minh Đức là con út, đại úy chiến xa trong quân đội Pháp, khi cụ mất được gọi về. Còn hai chị ở Canne, lâu đài De Losse, không sang chịu tang được vì nước Pháp đang bị Đức chiếm đóng.

Cụ tặng tôi một bức tranh thủy mặc mực tàu có đề thơ và một thanh bảo kiếm.

Cụ quan tâm theo dõi tình hình đất nước, thường băn khoăn chưa tìm được kế sách giúp ích cho tổ quốc. Chưa bao giờ cụ nhắc lại quá khứ lịch sử mà chỉ hỏi tôi về đất nước, dân tình, về phong trào và triển vọng. Có lần cụ hỏi tôi về ông Nguyễn Ái Quốc, nào tôi có biết được là bao! Cụ hỏi tôi về Bảo Đại. Tôi khá rõ Bảo Đại là tay thiện xạ cưỡi ngựa, giỏi tiếng Pháp hơn tiếng mẹ đẻ và rất thạo khiêu vũ. Nghe tôi kể, cụ cười nhẹ: nó là con rối. Đó là nụ cười hiếm hoi. Trong bốn năm tiếp xúc với cụ có lẽ mới thấy cụ chỉ cười đôi ba lần, lại là cái cười châm biếm mỉa mai.

Cụ sống giản dị. Quần áo đều tự may lấy theo kiểu cổ Việt Nam. Cụ để búi tóc củ hành cho tới khi mất. Suốt những năm tháng đó cụ quên mình trong điêu khắc, hội họa và âm nhạc. Nhiều lần triển lãm mỹ thuật họ mời cụ tham gia tác phẩm, cụ đều từ chối. Cụ soạn nhạc hoặc vẽ là để nung nấu tâm hồn u uất và thất vọng. Cụ chỉ đàn khi nào trong lâu đài mênh mông kia không một bóng người. Có lần tôi đến thăm thấy cụ đang say sưa đàn. Hình ảnh một cụ già rất Việt Nam thấp thoáng bên chiếc dương cầm bóng lộn khiến tôi liên tưởng đến ông nội tôi hay một cụ đồ nho khom lưng viết câu đối Tết. Tôi dốt âm nhạc chỉ nghe thấy cây đàn khi nức nở thánh thót, khi bão bùng. Dứt tiếng đàn, cụ dang rộng hai tay đặt trên cây đàn đăm đăm suy nghĩ. Tâm hồn cụ đang bay bổng theo tiếng đàn và đất nước quê hương chăng?

Cụ không có bạn, ít muốn tiếp xúc với ai. Một lần vợ chồng toàn quyền Catroux, lần khác tướng Givand - Tổng thống lâm thời Pháp với De Gaulle đến thăm, cụ đều thoái thác đi vắng, cho tôi thay mặt tiếp.


Bình luận: Hải Âu viết: “Cụ không có bạn, ít muốn tiếp xúc với ai. Một lần vợ chồng toàn quyền Catroux, lần khác tướng Givand - Tổng thống lâm thời Pháp với De Gaulle đến thăm, cụ đều thoái thác đi vắng, cho tôi thay mặt tiếp”. Ở trên NHA viết  ông cùng vua Hàm Nghi “thơ thẩn trong vườn lo lắng bàn bạc đến số phận và tương lai đất nước”, rồi lại hướng dẫn cho bà Hàm Nghi táng vua Hàm Nghi trong vườn Biệt thự Gia Long. Đến đây lại thay mặt vua Hàm Nghi tiếp “vợ chồng toàn quyền Catroux, lần khác tướng Givand - Tổng thống lâm thời Pháp với De Gaulle”. Chúng ta biết các Toàn quyền, Thủ tướng, Tổng thống Pháp cũng như các nước đi đâu thì tiền hô hậu ủng, an ninh vòng trong vòng ngoài. Một anh lính thuộc địa như Hải Âu chắc gì được có mặt trong gia đình vua Hàm Nghi. NHA – một anh lính thuộc địa với tư cách gì mà có thể đại diện cho vua Hàm Nghi? Có thể nói NHA viết chi tiết nầy chứng tỏ NHA mắc bệnh hoang tưởng đến cực độ. Ban Biên tập T/c Sông Hương không đọc chi tiết nầy sao?


Cụ nói: họ đến với tôi vì tò mò. Bà Foltz là người bạn duy nhất của cụ. Hình như số mệnh đã dắt bà đến với cuộc đời ảm đạm của cụ Hàm Nghi, bà là niềm vui, là chút ánh sáng trong cuộc sống hàng ngày của cụ.

Bà Foltz kém cụ mười lăm tuổi, cháu ngoại dòng chánh thống De Bourbon. Ông thân sinh ra bà là một nhân vật tăm tiếng ở Thụy Sĩ. Bà là một nhà văn. Cũng như bà Blanche không lấy chồng. Người ta không thể hiểu được sức mạnh nào đã lôi cuốn bà ra khỏi chiếc lâu đài cổ kính, đồ sộ nhất Thụy Sĩ mà bà thừa kế, để sang Alger này ngày hai buổi đến dùng trà và chăm sóc sức khỏe của cụ Hàm Nghi.

Tình yêu chăng? Tôi được bà thương yêu như con cũng chưa bao giờ bà hé nửa lời tâm sự. Sự cách biệt về tuổi tác, nhất là lòng mến yêu của bà Hàm Nghi không cho phép tôi được nghĩ đến điều đó. Bà Foltz chỉ nói sơ qua là bà gặp cụ trên bãi biển hồi bà 11 tuổi. Sau mấy năm du học ở Londres và bà sang ở Alger.

Chớ đụng đến nước Annam và người Annam trước mặt bà! Trong một buổi tiệc trà; mụ vợ toàn quyền Catroux muốn lấy lòng bà đã ca ngợi hết lời xứ Annam văn minh: “Tôi kính cẩn nghiêng mình trước dân tộc Annam” (Je m’incline devant la race Annamite”; Tiệc tan, tôi nói với bà Foltz: “khi vợ chồng Catroux ở Đông Dương, chúng đã giết hại hàng ngàn người”. Bà nổi giận ra lệnh ngay cho cô quản gia (gouvernante) Lola xóa tên mụ trong danh sách khách mời đến dự tiệc của gia đình.

Tôi không rõ được xu hướng của chính trị của bà thế nào, có lẽ xu hướng duy nhất là tình người; là lòng nhân đạo, là lẽ phải (bon sens). Bà phẫn nộ khi tôi kể lại tình cảnh sống dở chết dở của người Đông Dương. Thực ra bà còn hiểu biết hơn tôi. Chính bà đã lục trong tủ sách của cụ Hàm Nghi đưa tôi cuốn “Bản án thực dân” (Procès de la colonisation Francaise) của ông Nguyễn Ái Quốc và “Đông dương cấp cứu” của bà Andrée Violla. Bà còn đưa một cuốn không rõ có phải “Con rồng tre” không, tôi đã bỏ qua không đọc vì thấy một bản in li-tô nhòe nhoẹt, cho là chuyện tầm thường, chỉ nhớ mang máng ngoài bìa có một khóm tre, có những chữ to đậm nét như những dóng tre thôi. Nếu đúng là “Con rồng tre” thì đáng tiếc vô cùng. Vào năm 1945, bà đưa cho tôi một trang phụ lục báo đăng chi chít ảnh chụp cảnh chết đói trong nước ta hồi đó. Bà hỏi tôi: anh muốn gì? Cần tiếp xúc với ai, khó khăn mấy tôi cũng làm hết mình miễn là có thể đem lại điều gì tốt lành cho đất nước anh. Bà đã giới thiệu tôi gặp nhà lãnh tụ Cộng sản Vaillant Couturier, bà Viols và cả René Flévon thượng thư bộ thuộc địa để yêu cầu một số chính sách chế độ đối với binh sĩ Việt Nam.

Năm 1947, hồi tôi còn ở Sài Gòn, bà viết thư bảo tôi trình bày với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nếu Người cần chuyên gia, thuốc men dụng cụ y tế thì Thụy Sĩ sẵn sàng giúp đỡ. Hồi đó em bà, bà Sihumberger là Chủ tịch Hồng thập tự Quốc tế. Khi tôi ra tận chiến khu ngoài Bắc, tôi sơ suất bỏ qua, ngại không dám đề đạt.

Tôi nghĩ, chính cuộc đời sóng gió, lòng yêu nước và đức độ của cụ Hàm Nghi đã cảm hóa bà, bà đứng hẳn về phía Việt Nam. Sau khi cụ mất, tình thương yêu người Việt Nam càng sâu đậm. Có lần bà khóc mà nói: Tôi rất muốn anh sang Thụy Sĩ, lâu đài đó, vườn tược đó, tôi cần gì đến nữa. Về nước chắc chắn người Pháp sẽ làm khổ anh, nhưng tôi cũng rất muốn anh mau chóng trở về đất nước vì đó là nghĩa vụ, là nguyện vọng cao cả của anh.

*

*          *

Bọn xâm lược Pháp, kẻ thù của dân tộc, đã cút khỏi đất nước, nước nhà hoàn toàn độc lập. Cái hy vọng mong manh của cụ trông chờ vào ông Nguyễn Ái Quốc ngày nào đã trở thành hiện thực. Vậy mà cụ không được hưởng. Cụ không còn nữa! Chỉ còn một nấm mồ hoang tận phía trời xa. Mỗi lần qua phố Hàm Nghi, tôi lại thầm ước vọng, nếu như nắm xương tàn của cụ được trở về với núi Ngự sông Hương tưởng cũng xứng đáng và an ủi phần nào mảnh hương hồn của con người khí phách ấy.

NGUYỄN HẢI ÂU

(14/8-85)

[Nguồn: Sông Hương số 14 tháng 8 năm 1985]

Lời kết: Phản biện bài viết Những ngày cuối cùng của vua Hàm Nghi của Nguyễn Hải Âu, tôi chỉ viết một câu “ Chuyện bịa đặt hoang tưởng nên loại bỏ” là đủ. Nhưng tôi vẫn chịu mất thì giờ phản biện một số chi tiết cần phải phản biện (còn vô số chi tiết sai lầm hoang tưởng khác – như tôi đã gạch dưới trong bài trên, để bạn đọc sau khi đọc các phản biện của tôi có thể loại bỏ tiếp) với mục đích giúp cho các cây bút biên tập trẻ tỉnh táo trước các bài viết dưới dạng hồi ký lịch sử. Hơn nữa để giúp cho bạn đọc trẻ đời nầy và đời sau tránh được cú lừa của Nguyễn Hải Âu đang được phát tán trên hàng trăm trang mạng toàn cầu. Đề nghị Ban biên tập T/c Sông Hương xem lại trách nhiệm của T/c về cú lừa của Nguyễn Hải Âu gân 30 năm trước.

Nguyễn Đắc Xuân

 

 
 
Các bài Vua quan triều Nguyễn khác
Các bài Vua quan triều Nguyễn