Đà Lạt có một đóa hoa không bao giờ tàn
Năm nay tôi sắp bước vào tuổi 78. Tôi đã sống suốt cả thời thơ ấu ở Đà Lạt. Trừ 9 năm đi kháng chiến, ngoài ra năm nào từ Huế tôi cũng lên Đà Lạt một vài lần. Đà Lạt là thành phố hoa, là quê hương thứ hai của mẹ tôi, của các em tôi. Thế mà tôi phải mất mấy chục năm nghiên cứu triều Nguyễn và Huế xưa, phải qua về nước Pháp vài ba lần tôi mới ngộ ra được ở Đà Lạt – thành phố hoa - có một loài hoa sắc đẹp không bao giờ tàn. Đóa hoa đó xuất hiện trên cõi đời nầy vào năm 1914 - sau ngày Docteur Yersin đã tìm được thành phố Đà Lạt 20 năm, có tên là Nguyễn Hữu Thị Lan và được công nhận là người đẹp nhất Thế kỷ XX đến nay vừa đúng 80 năm với tên gọi Hoàng hậu Nam Phương (1934).

Nhắc đến Hoàng hậu Nam Phương, người Đà Lạt nào cũng biết. Thuở ấy, mỗi lần từ Túy Sơn (cây số 12), Trại Mát đi chợ Đà Lạt tôi đều đi ngang qua Biệt thự Nguyễn Hữu Hào ở số 4 Hùng Vương ngày nay. Lúc học ở Đà Lạt lại được các thầy giáo đưa đi dã ngoại ở thác Cam Ly các thầy không quên hướng dẫn học trò viếng lăng Quận Công Long Mỹ - thân sinh của Hoàng hậu. Ngày nay mỗi lần đi thăm mộ thân mẫu tôi ở đồi Du Sinh, tôi không thể không nhìn vào trường Dân tộc nội trú Lâm Đồng và nhớ lại trường nữ Couvent des Oiseaux do Hoàng hậu Nam Phương bảo trợ đã ra đời từ những năm ba mươi của thế kỷ trước. Đặc biệt hơn nữa, ngoài Cố đô Huế, không một nơi nào trên toàn cõi Việt Nam nầy có một Palais Impérial (P.I.) Cung điện Hoàng gia trên đường Darles như ở Đà Lạt nầy (nay là Dinh 3 đường Triệu Việt Vương), Cung điện nầy do chính vợ chồng Hoàng hậu Nam Phương – vua Bảo Đại lập nên. Palais Impérial từng làm thủ phủ của Quốc Trưởng Bảo Đại từ năm 1949 đến năm 1954. Hoàng hậu Nam Phương người quê ở Tiền Giang, sinh trưởng tại Sài Gòn (cũ), du học Pháp, làm Hoàng hậu ở Kinh đô Huế, nhưng không nơi nào gắn bó với Bà lâu dài, sâu đậm, bền vững, như thành phố Đà Lạt cả.

Lúc vua Bảo Đại còn tại vị, Bà lo sinh đẻ và nuôi dạy hai Hoàng tử và ba Công chúa, làm việc xã hội, từ thiện trong đó có việc bảo trợ xây dựng trường Couvent des Oiseaux, giúp chồng làm ngoại giao. Khi vua Bảo Đại thoái vị trao ấn kiếm cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, trong Cách mạng Tháng 8/1945, rồi ông ra Hà Nội làm Cố vấn cho Chính phủ, Bà ở lại Huế, một tay nuôi 5 người con dại, tham gia chủ tọa Tuần lễ vàng lập quỹ quốc phòng để chống Pháp. Khi được tin thực dân Pháp trở lại gây hấn hòng lập lại chế đô thực dân ở Nam bộ, Bà đã gởi một Thông điệp (Message) cho bạn bè ở châu Âu và Thế giới yêu cầu họ lên tiếng tố cáo sự trở lại của quân đội Pháp làm đổ máu đồng bào Việt Nam. Đầu năm 1947, Toàn quốc kháng chiến, chồng bà đang ở nước ngoài, Bà và 5 người con ở vào một hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Bà không thể đi theo kháng chiến và cũng không thể trở lại với lực lượng Pháp tái chiếm Việt Nam mà Bà đã lên án gay gắt. May sao còn có Đà Lạt, Bà đưa các con lên ẩn mình trong cái biệt thự mà gia đình cha mẹ Bà đã cho Bà được quyền thừa kế từ nhiều năm trước. Sau thời gian ổn định ở Đà Lạt  Bà tìm cơ hội đưa các con qua Pháp thoát khỏi sự kiểm soát của bọn thực dân Pháp ở Việt Nam. Bọn thực dân Pháp lên án Bà là kẻ đã phản bội nước Pháp, đã ủng hộ kháng chiến chống lại Pháp. Chúng in Thông Điệp chống Pháp của Bà vào cuốn Ho-Chi-Minh Abd-El-Krim của Jean Renaud do Guy Boussac (Paris 1949) cùng với những bài viết về các nhân vật chính trị ở các thuộc địa được người Pháp đào tạo nuôi dưỡng nhưng cuối cùng vì quyền lợi dân tộc họ đã trở lại chống thực dân Pháp. Dư luận từ cuốn sách ấy đã gây nên không ít khó khăn cho bà khi bà và các con trở lại nước Pháp. Để tránh mọi hệ lụy của chính trị, Bà đưa các con về sống ở Thành phố Cannes, cách Paris trên 900 km. Khi được tin Cựu hoàng Bảo Đại không vượt qua được những khó khăn, thử thách của hoàn cảnh đã trở lại làm Quốc trưởng bù nhìn cho Pháp chống lại kháng chiến, Bà rất băn khoăn. Nhưng  “Phu xướng, phụ tùy” Bà không thể có con đường nào khác với chồng. Tuy nhiên, từ Pháp Bà viết thư về cho Cựu hoàng Bảo Đại ở Đà Lạt, Bà nhắc nhủ Bảo Đại hãy chăm lo đến đời sống của dân chúng vì đã quá khổ vì chiến tranhh. Bà không hề đả động gì đến việc chống lại kháng chiến. Đến khi Cựu hoàng Bảo Đại bị ông Ngô Đình Diệm với viện trợ của Hoa Kỳ tổ chức “trưng cầu dân ý”, truất phế Bảo Đại khỏi chức Quốc trưởng và tịch thu hết tài sản của vợ chồng Bà ở trong nước và cả ở nước ngoài (1955), Bà rất đau khổ nhưng không hề thương tiếc. Điều Bà phải gánh chịu là sự sa sút tinh thần của Cựu hoàng. Bị người mình tín nhiệm phản bội, nhiều lúc Cựu hoàng tức giận như nổi cơn điên, ông xách súng chạy loanh quanh trong vườn nhà tìm người để bắn. Cả nhà hoảng sợ chạy trốn hết. Rồi ông bỏ nhà đi hằng tháng, cặp bồ với nhiều phụ nữ bình dân Pháp, rơi vào hoàn cảnh thân bại danh liệt. Bất lực trước sự suy sụp của chồng, Bà sống lặng lẽ nuôi con. Đến năm 1958, Bà không chịu nổi cảnh phồn hoa ở Cannes, cũng không muốn xuất hiện ở Paris nữa, Bà về mua một trang trại mang tên Domain de la Perche ở làng quê Chabrignac thuộc miền Trung tây nước Pháp, cách Paris gần 500 Km. Bà âm thầm làm dân Chabrignac 5 năm. Bà qua đời vào ngày 15-9-1963, ở tuổi 49 và táng ngay ở vùng quê ấy. Bà qua đời trước khi chế độ của người phản bội Cựu hoàng Bảo Đại sụp đổ vừa đúng 1 tháng 15 ngày.

Lúc sinh thời, Hoàng hậu Nam Phương đã biết vượt qua những thử thách của lịch sử, sống lặng lẽ để giữ mình trong vai trò mẫu nghi thiên hạ. Sau khi qua đời, Bà cũng lặng lẽ với một nấm mộ đơn sơ ở một vùng quê hẻo lánh mà hằng năm không có mấy người đến viếng. Sự lặng lẽ ấy khiến cho nhiều người dân Việt yêu kính Bà không nghĩ đến việc Bà đã mất nên trong lòng họ vẫn ngự trị hình ảnh một bà Hoàng hậu đẹp vĩnh cửu. Dung nhan đẹp. Phục sức Tây, phục sức Ta thuộc loại đẹp mẫu mực, nhân cách lớn, bên hữu, bên tả đều quý trọng, không hề bị lây nhiễm cái tính “ham chơi” của ông chồng. Bà chỉ làm Hoàng hậu chính thức có 11 năm (1934-1945), thế nhưng đối với dân chúng Bà làm Hoàng hậu suốt đời. Trong cuộc sống bộn bề, phức tạp hiện nay khó tìm được một người khi nhắc đến tên tất cả đều nở một niềm vui như khi họ nhắc đến Bà.

Niềm vui đó có thể thấy ngay trên mắt, trên môi hàng ngàn du khách từ mọi miền đất nước và nước ngoài hằng ngày đến tham quan Dinh Ba (Palais Impérial). Họ lên Đà Lạt để được chụp ảnh với hoa và với Hoàng hậu Nam Phương trong Dinh Ba. Những tấm ảnh kỷ niệm đẹp ấy ngầm giấu một chút tự hào. Cũng có lẽ vì sự quý trọng Bà mà  lãnh đạo Bảo tàng Lâm Đồng đã xây dựng lại ngôi biệt thự thừa kế của Bà ở 4 Hùng Vương ngày nay thành Cung Nam Phương. Cung Nam Phương lưu giữ và trưng bày các hiện vật lưu niệm và hình ảnh Hoàng hậu Nam Phương từ lúc Bà mới ra đời cho đến khi Bà vào cõi vĩnh hằng. Chưa có một nơi nào Hoàng hậu Nam Phương được trưng bày, giới thiệu một cách tập trung, đầy đủ như thế. Tôi đã lui tới những nơi ấy nhiều lần. Nhưng có một nơi – không rõ ngày xưa có khi nào Hoàng hậu Nam Phương đã đặt chân đến mảnh đất đó hay chưa – mà mỗi lần tôi đến đều lưu lại trong tôi nhiều suy nghĩ về nghề nghiệp của tôi. Nơi đó là không gian XQ Đà Lạt Sử Quán mà tôi đang được mời thưa chuyện cùng người Đà Lạt hôm nay đây. Sắc đẹp của Hoàng hậu Nam Phương đã định hình trong tâm hồn mọi người. Dùng chữ nghĩa mô tả nét đẹp đó cho đúng là rất khó. Nhưng viết chưa đúng thì xóa viết lại. Các họa sĩ vẽ chân dung Hoàng hậu Nam Phương chưa đúng, chưa có hồn thì xóa, vẽ lại. Nhưng các cô nghệ nhân thêu truyền thống ở XQ chỉ được dùng những sợi chỉ màu cố định, đột từng mũi kim, dệt nên những sợi tóc, ánh mắt, làn môi, nụ cười nghiêm mà vui cùa bà Hoàng hậu đẹp nhất nước đã có sẵn trong tâm hồn mọi người quả là một lao động nghệ thuật cực kỳ cần mẫn, công phu. Tôi được biết có nhiều bức tranh phải thêu trong mấy năm. Trong mấy năm ấy hình ảnh Hoàng hậu Nam Phương sống trong lòng người thợ thêu và Bà được tái sinh sau vài năm. Lúc đầu tôi đã nhầm những bức chân dung đó là một họa phẩm. Không ngờ là một bức tranh thêu. Hoàng hậu Nam Phương qua bàn tay những nghệ nhân thêu XQ hàng ngàn năm nữa vẫn không cũ, không già.

Hoàng hậu Nam Phương qua đời lúc mới 49 tuổi. Dù Bà đã có 5 người con, nhưng sắc đẹp của Bà ở tuổi 49 thực sự chín muồi. Cực đẹp. Trong bộ sưu tập ảnh Nam Phương của tôi hàng mấy trăm tấm, nhưng chưa bao giờ tôi bắt gặp được một tấm ảnh nào của Bà gọi là già, là không đẹp. Bà khép lại cuộc đời ở tuổi 49 để nhân gian còn nhớ đến Bà một chữ đẹp vĩnh viễn. Hoàng hậu Nam Phương là một loài hoa đẹp không bao giờ tàn.

Tôi bỏ công mấy chục năm sưu tập nghiên cứu viết về Hoàng hậu Nam Phương cũng không ngoài vì cái đẹp đó. Khi đi tìm lịch sử của Bà tôi không nghĩ đến Dinh Ba, không nghĩ đến Cung Nam Phương, không nghĩ đến XQ…nhưng không ngờ lại có cuộc gặp gõ thú vị ngày hôm nay. Cho nên với tư cách là người cháu ngoại của Thành phố hoa Đà Lạt, mừng Đà Lạt lên tuổi 120, tôi vừa cho ra đời Trăm Năm Vui Buồn Hoàng Hậu Nam Phương để cùng vui với người dân Đà Lạt.

Ở cái tuổi xấp xỉ tám mươi nầy, tôi ước mơ có một cuộc vận động gia đình hậu duệ của Hoàng hậu Nam Phương cho phép cải táng hài cốt Hoàng hậu ở làng Chabrignac/ Pháp về Đà Lạt / Việt Nam để cho hương hồn của Bà được gần gũi với thành phố hoa thân thiết của Bà. Nếu việc đó đời nầy chưa làm được thì ở Cung Nam Phương, Dinh ba, và XQ Sử quán Đà Lạt  mỗi nơi nên có một tượng đồng của Bà để cho giới nữ Việt Nam luôn được gần Bà để hưởng được cái hương thơm của Phương Nam. Nếu như thế cũng chưa được, nên chăng lãnh đạo Đà Lạt nên chọn một loài hoa gì đó tiêu biểu nhất của Đà Lạt đặt lại tên là Hoa Hoàng hậu Nam Phương. Tôi tin chắc rằng loài hoa đó sẽ dẫn đến ý tường Thành phố Đà Lạt sẽ có thêm một cái tên văn hóa đặc thù là thành phố Hoàng hậu Nam Phương giống như thành phố Hải Phòng nổi tiếng là thành phố Hoa Phượng Đỏ vậy.

Mộ phần HH Nam Phương ở Chabrignac/Corrèze (Pháp)

Nói mấy cũng không cùng, chỉ làm mất thì giờ của quý vị. Chuyện Hoàng hậu Nam Phương sẽ được trình bày đầy đủ hơn trong cuốn sách tôi vừa phát hành.

Xin cám ơn XQ Sử quán Đà Lạt đã tạo điều kiện cho tôi được có mặt trong buổi gặp gỡ hết sức thân tình nầy. Xin cám ơn bà con, bạn bè người dân thành phố hoa đã nghe tôi tâm sự về đóa hoa tâm linh không bao giờ tàn. Mùa Xuân sắp đến kính chúc tất cả quý vị vạn sự tốt đẹp như hoa Đà Lạt muôn vạn sắc màu. Kính chào quý vị.

Đà Lạt, 27-11-2013

 
 
Các bài Vua quan triều Nguyễn khác
Các bài Vua quan triều Nguyễn