Phố, thị Đông Ba và một vài địa danh trong khu phố, thị trung tâm
Phú Xuân, từ một làng quê thuộc huyện Hương Trà, được chúa Nguyễn Phúc Thái (Trăn) chọn làm Thủ phủ của xứ Đàng Trong (1687) cho đến nay (1998) đã ngót 311 năm. Trong 311 năm ấy, Phú Xuân đã trải qua nhiều lần thay đổi nhưng cuối cùng rồi cũng giành lại được vị trí số một của mình ở xứ Đàng Trong rồi ở toàn toàn quốc - Phú Xuân, kinh đô cuối cùng của thời đại quân chủ Việt Nam. Những lần thay đổi như thế đã có những tác động lớn đến sự phát triển kiến trúc văn hoá của Huế. Theo tài liệu, có hai thời kỳ thay đổi quan trọng nhất của bộ mặt Huế . Lần thứ nhất xảy ra dưới thời vua Gia Long và và lần thứ hai dưới thời vua Thành Thái. Với thời gian của cuộc toạ đàm cho phép, tôi xin trình bày đôi nét về sự phát triển phố thị dưới thời vua Thành Thái. Đây cũng là thời kỳ Âu hoá đầu tiên của Kinh đô Huế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Phố Trần Hưng Đạo trước chợ Đông Ba

Phố thị Huế (thuộc hường Phú Hòa) ngày nay vốn là một mảnh đất của làng Phú Xuân xưa. Nhưng từ sau ngày chúa Nguyễn Phúc Trăn (1687) xây dựng thủ phủ ở Đàng Trong, nhất là Nguyễn Phúc Hoạt xây dựng (1639) Đô Thành bên tả thủ phủ của Nguyễn Phúc Trăn thì mảnh đất  ấy bị ép bởi sông Hương và bờ tường của Đô thành Nguyễn Phúc Hoạt. Đến năm 1805, xây dựng Kinh thành Huế, vua Gia Long mở rộng Đô thành xưa, nó lại bị cắt xén một lần nữa, cuối cùng nó chỉ còn là một rẻo đất hẹp chạy chung quanh mặt trước Kinh thành Huế. Trước là sông Hương, phía sau là hệ thống Hộ Thành Hà, những rẻo đất còn thừa, các người có quyền thế đến chiếm cứ lập vườn. Đất chung quanh mặt Đông Bắc, Đông Nam và Chính Nam dồn lại thành Phường Đệ nhất (tức là phường Phú Hòa ngày nay).                 

Từ thời Quang Trung trở về trước (1788-1892) khu vực buôn bán sầm uất chủ yếu của Huế nằm ở cảng Thanh Hà, phố Bao Vinh. Sau đó chuyển dần lên phố Gia Hội. Người buôn phần lớn là người Hán Thanh. Sau ngày thất thủ Kinh đô (1885), cho đến đầu thế kỷ XX, người Pháp  củng cố bộ máy Bảo hộ ở Huế, họ xây dựng thêm khu buôn bán ở phía hữu ngạn sông Hương. Hãng buôn Morin ra đời vào thời ấy.

 Việc hình thành khu vực buôn bán chính của thành phố Huế phân ra làm hai giai đoạn.

Giai đoạn hình thành phố cửa Đông: Khu vực này có chợ Qui Giả ( sẽ viết rõ ở dưới). Vì nhu cầu tiêu dùng của Kinh đô Huế, dần dần hình thành chung quanh chợ Qui Giả một khu buôn bán lớn. Khu vực này chạy từ cầu Thanh Long vào đến cầu Gia Hội. Năm 1886, vua Đồng Khánh cho phép quan lại và dân chúng xây dựng phố xá ngoài cửa Chánh Đông (tức Đông Ba) theo qui cách của bộ Hộ và bộ Công qui định. Người được buôn bán ở đây phải nạp thuế. Theo qui định của Nam triều, phố  cửa Đông có 3 dãy, lợp ngói. Đến năm Thành Thái thứ 2 (1890) tiếp tục xây dựng theo qui định cũ, một số lầu gác hai tầng mọc lên. Mặt sau có một đường, hai dãy phố quay mặt với nhau buôn bán phát đạt (ngày nay là đường Phan Đăng Lưu)

Giai đoạn Phố Đông Ba (cũng gọi là phố Trường Tiền): Đến cuối thế kỷ XIX, vua Thành Thái chịu ảnh hưởng phần nào của phong trào Duy Tân của Nhật Bản, nhận thấy việc buôn bán của Huế đều nằm trong tay người Tàu và người Pháp, năm 1898 ông đã thương lượng với thực dân Pháp thành lập thị xã Huế và mở thêm phố Đông Ba (từ cầu Gia Hội đến cầu Trường Tiền) [1]. Bộ Hộ và bộ Công làm “tiêu đạc” (phân lô) quan dân ai muốn xây dựng thì xin nhận một sở. Nhà phố phải xây nối nhau thành một dãy dài đối diện với chợ Đông Ba. Phố Trường Tiền trở thành nơi buôn bán sầm uất nhất. Người Hán và người Minh Hương được qui định ở phố Gia Hội, nhưng vì họ “ khéo” tranh thủ chính quyền địa phương nên một số đã lọt được vào phố Đông Ba.

Trước mặt phố đắp đường quan, nhân dân qua lại ngựa dong ruỗi, giữa phố thị có cảnh trí xe chạy đụng bánh, người đi phải chen vai nhau. Xưa nay ở Kinh đô Phú Xuân chưa hề có một nơi đô hội như vậy.

Cùng thời gian thành lập phố Đông Ba ( hay phố Trường Tiền, sau còn có tên phố Paul Bert) vua Thành Thái cho phép “chợ Đông Ba đem ra ngoài giại”. Trước khi ra ngoài giại, chợ Đông Ba toạ lạc bên ngoài cửa Chánh Đông (tức cửa Đông Ba theo cách gọi dân gian) dưới thời Gia Long, có một cái chợ lớn mang tên là “Qui giả thị “ (le Marché de ceux qui reviennent). Cái tên nầy đánh dấu sự kiện trở lại Phú Xuân của quan quân nhà Nguyễn. Thời Quang Toản loạn lạc, nhân dân chạy tứ tán, đến đầu triều Nguyễn thái bình, nhân dân trở lại từ khắp nơi. Qui Giả là ngôi chợ của những người trở về. Gần một thế kỷ sau, mùa hè năm 1885, Kinh đô thất thủ, chợ Qui Giả bị giặc Pháp đốt sạch. Đến năm 1887 vua Đồng Khánh cho xây lại gồm có “đình chợ” và “quán chợ “ lấy tên là Đông Ba. Suất đội Nguyễn Đình Nên bỏ tiền ra làm một đình ngói giữa chợ, hai bên phải, trái có hai dãy quán ngói. Nên được phép thu thuế 6 năm, mỗi năm 1300 quan. Đến năm 1899, trong công cuộc chĩnh trang đô thị theo phong cách phương Tây, vua Thành Thái cho đem “Đông Ba đem ra ngoại giại[2]” (chỗ bây giờ), đình chợ cũ sửa lại làm thành trường Pháp Việt Đông Ba[3].

Chợ Đông Ba mới họp ngay trên rẻo đất ngả ba sông Hương và bờ tây sông đào Đông Ba trước Kinh thành, đối diện với chợ Được toạ lạc trên ngả ba sông Hương và bờ phía đông sông Đông Ba thuộc vùng Gia Hội. Trước kia chợ Được sầm uất không thua gì chợ Qui Giả (sau là chợ Đông Ba cũ), nhưng từ khi chợ Đông Ba đem ra ngoài giại, chợ Được bị dẹp bỏ.

Chợ Đông Ba  đem ra ngoài giại ở góc Đông Nam trước Kinh thành.

Chợ Đông Ba thời Thành Thái gồm có 4 dãy quán: trước, sau, phải, trái. Mặt trước một dãy 8 gian, mặt sau một dãy 12 gian, dãy phía tay phải 13 gian...đều lợp ngói, giũa chợ có một tòa lầu vuông, 3 tầng, tầng dưới có 4 vách tường, mỗi phía có 2 cửa, tầng trên bốn mặt đều có cửa, đều có mặt đồng hồ để điểm giờ khắc. Trong chợ xây một giếng đá, có hệ thống  máy giúp cho việc múc nước. Khi lấy nước dùng tay quay máy, tự nhiên nước trong giếng tràn lên, phun ra. Đầu thế kỷ XX, đây là một công cụ phục vụ con người còn hiếm có ở Huế.                                   

Khuôn đất bến xe ngày nay, ngày xưa là trường luyện voi của Hoàng gia, tên chữ là Tập tượng trường (Champ d’exercice pour les Eléphants).

Năm 1967, chính quyền Sài Gòn cho triệt hạ chợ cũ và xây lại chợ mới. Công trình đang xây dang dỡ thì bị hoả lực của bom pháo Mỹ  phản kích trong chiến dịch Huế Xuân 1968 bắn phá tan tành. Sau đó chính quyền Sài Gòn cho sửa chữa tạm để  cho dân buôn bán. Sau ngày thống nhất đất nước 1975, chính quyền mới sửa chữa nhiều lần để  thoả mãn yêu cầu mua bán của tiểu thương chợ Đông Ba. Nhưng càng sửa càng  phát sinh nhiều hư hỏng trầm trọng. Đến năm 1987, sau 12 năm thống nhất đất nước, chợ Đông Ba được đại trùng tu.

Chợ  Đông Ba, sau khi được đại trùng tu, ngoài lầu chuông ở trung tâm,  có 9 dãy nhà bao quanh cùng 4 khu hàng mới như chợ cá, khu hàng tự sản, tự tiêu, khu hàng dịch vụ... được xây dựng dọc theo đường Chương Dương sát bờ sông, có tổng diện tích mặt bằng xây dựng cơ bản là 4.720m2. Ngoài ra, Ban quản lý chợ còn tiếp tục quản lý khu Hoa Viên Chương Dương, các bến bãi đổ xe ô tô, xe lam, nơi giữ xe đạp, xe hon da... nâng tổng diện tích mặt bằng thuộc diện quản lý của Ban Quản lý chợ lên trên 6000m2

Theo thiết kế của đợt sửa chữa xây dựng mới năm 1986, chợ chỉ đủ chỗ tiếp nhận khoảng trên 1500 hộ, sau đó có nới mở rộng thêm, hiện nay trong chợ có đến 2.543 hộ kinh doanh cố định, 141 lô bạ và có từ 500-700 hộ buôn bán rong. Bình quân mỗi ngày có từ 5000 đến 7000 khách đến chợ. Vào những dịp lễ, ngày Tết chợ đông hơn, có từ trên 1,2 vạn người.

Nằm dọc theo bờ Bắc sông Hương (từ đầu cầu Trường Tiền đến cầu Gia Hội), phía trước là đường Trần Hưng Đạo - một trong những trục đường chính của Thành phố Huế. Vị trí mặt bằng của chợ hội đủ các yếu tố ‘’ Trên bến dưới thuyền, phố xá đông đúc’’ là điều kiện hết sức thuận lợi cho việc kinh doanh mua bán.

Từ khi ra đời đến nay, chợ Đông Ba luôn là trung tâm thương mại lớn nhất của Huế và khu vực miền Trung. Là một trong ba chợ lớn đã có từng có tên tuổi ở ba vùng Bắc-Trung-Nam của đất nước. Sau chợ Đồng Xuân[4] (1890) Hà Nội và chợ Bến Thành[5] (1912) thành phố Hồ Chí Minh, là chợ Đông Ba.

Phố, chợ Đông Ba cũng quan hệ với cầu Trường Tiền. Nơi đặt đầu cầu Tường Tiền (phía bờ bắc) trước kia là bến đò Trường Tiền. Bến đò đỗ gần công trường đúc tiền (sapèquerie) của Hoàng gia nên có tên là cầu Trường Tiền. Người Huế xưa và người châu Âu mới đến Huế thường gọi đoạn sông Hương chảy qua bến đò Trường Tiền là “sông Trường Tiền”. Năm 1897, với sự vận động của vua Thành Thái,  chánh phủ Bảo hộ cho bắc cầu sắt qua sông Hương gồm 6 vài, 12 nhịp thay cho bến đò, do  hãng thầu Eiffel đảm trách. Lúc đầu cầu có tên là cầu Thành Thái. Về sau vua Thành Thái bị đày (1907), cầu đổi tên thành cầu Clémenceau - một vị thủ tướng Pháp có công lớn trong Thế chiến thứ nhất. Sau ngày Pháp mất chủ quyền ở Việt Nam, cầu Trường Tiền mang tên Nguyễn Hoàng- vị chúa Nguyễn làm trấn thủ Thuận Hoá đầu tiên. Tuy vậy, trong dân gian xưa nay, người dân xứ Huế vẫn gọi là cầu Trường Tiền.

Việc vua Thành Thái cho dời chợ Đông ba ra nơi rộng rãi và sữa chữa lại cầu Trường Tiền, đã được dân gian ghi lại bằng hai câu ca dao lịch sử:

Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại

     Cầu Trường tiền đúc lại xi - moong. “

Phố, chợ Đông Ba cũng quan hệ mật thiết với sông Đông Ba. Không những quan hệ vì cùng mang tên Đông Ba mà còn vì con sông đào nầy là con đường thủy ngắn nhất nối phố, chợ Đông Ba với khu vực cảng sông sầm uất ở Bao Vinh, phố Lữ cũng như nối với các con đường thủy vô nam, ra bắc.

Năm 1805 xây dựng Kinh thành Huế, vua Gia Long đã cho đào một hệ thống sông để bảo vệ chung quanh Kinh thành. Đến đời Minh Mạng gọi hệ thống sông bảo vệ này là Hộ Thành Hà (fleuve qui protège la Citadelle). Đoạn sông đào chảy qua phía Đông Kinh thành, nên dân gian mới gọi là sông Đông Ba, bởi vì khu vực ấy có phố Đông Ba và chợ Đông Ba. Năm 1837, Minh mạng thứ 18, bờ sông Đông Ba được xây kè đá như ngày nay ta vẫn còn thấy. Về sau, trên sông nầy bè gỗ, tre nứa từ nguồn sông Hương đưa về buôn bán nhiều nên nó lại được dân gian cho thêm một tên nữa là sông Hàng Bè.                                        

Cầu bắc qua sông Đông Ba gọi là cầu Đông Ba. Cũng có tên là cầu Đông Hoa. Tên Đông Ba do người Huế xưa gọi. Năm, 1829, vua Minh Mạng đổi lại là Đông Gia, nhưng tên này chỉ tồn tại trong giấy tờ nhà nước mà thôi. Trước kia cầu làm bằng gỗ, đến năm 1892, vua Thành Thái cho sửa làm bằng sắt. Đây là cái cầu sắt đầu tiên ở Huế nên Đại Nam Nhất Thống Chí gọi là “cầu sắt Đông ba”. Trên hữu ngạn sông Đông Ba có một tấm bia khắc dòng chữ : “ Cầu Đông Ba xây xong vào một ngày tốt năm Thiệu Trị nguyên niên[6] “.

Khu phố, chợ Đông Ba cũng có quan hệ với một số di tích văn hoá của thành phố Huế  năm trên đất Phú Hoà ngày nay. Trước khi chấm dứt bài tham  luận nầy chúng tôi xin chép thêm một phần Phụ lục sau đây.                                                

1) Trường Pháp Việt Đông Ba

Ở ngoài cửa Chánh Đông (Đông Ba), nguyên là đình chợ Đông Ba, năm 1899 vua Thành Thái cho sữa chữa lại làm thành trường Pháp Việt Đông Ba. Trườn gồm có 10 gian gỗ lợp ngói, chia làm 5 phòng, trong đó lấy một phòng hai gian làm nơi cư trú của thầy giáo, còn 4 phòng 8 gain làm phòng học của học trò.

Bác Hồ lúc đó là một cậu bé 15 tuổi mang tên là Nguyễn Sanh Côn đã theo học ở đây (1905). Lần đấu tiên Bác Hồ được đọc câu tiêu ngữ của nhà nước Cọng hòa Pháp “ Liberté, Egalité và Fraternité “ (Tự do, Bình đẵng và Bác ái). kể từ đó, Bác đã ra sức học tiếng Pháp để xem thử văn minh văn hóa Pháp đã được thực hiên câu tiêu ngữ ấy như thế nào.

Hơn mươi năm sau, đồng chí Trần Phú (Tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam), đồng chí Phạm Văn Đồng (Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) cũng đã học nhiều năm ở đây.

 2.Trường luyện voi

Khuôn đất bến xe Lam (cũng là nơi xây dựng quán cơm Xã hội trước 1975)ngày xưa là trường luyện voi tên chữ là Tập tượng trường (Champ d’exercice pour les Eléphants)

3.Trường táng thổ mộ

Khoảng đất đang xây dựng vườn hoa ở đầu cầu Trường tiền, ngày xưa là “ trường táng thổ mộ “ dành cho binh lính trong kinh thành chết đem ra chôn tạm ở đó. Đến lúc gia đình ở xa hay tin, họ sẽ đến xin bốc về.

4. Tòa Thương Bạc

Khu đất xây dựng rạp Hưng Đạo ngày nay là nơi đặt Tòa Thương Bạc ngày xưa (Bureau des relations commerciales).

Dưới thời Gia Long hay Minh Mạng gì đó, trước phủ đường của tỉnh Thừa Thiên (vùng Mang cá ngày nay) có một cơ quan dành cho khách nước ngòai (chủ yếu là các nước Đông Dương và Thái Lan) đến cư trú trong thời gian đến công tác ở Huế gọi là Công quan (Hôtel des Ambassadeurs). Đến năm 1875 dưới thời Tự Đức, việc giao thiệp với các nước Tây phương ngày càng đông và phức tạp. Để đảm bảo an ninh, vua Tự Đức cho dời cơ quan liên lạc nầy ra chỗ đất xây dựng rạp Hưng Đạo ngày nay và đổi tên thành Tòa Thương Bạc (liên hệ buôn bán) nhưng thực chất là làm ngoại giao. Sau ngày Kinh đô thất thủ, Nguyễn Văn Tường về đầu Pháp và bị canh giữ tại đây. Sau đó là trụ sở của Hoàng Cao Khải, của Hoàng tử Bửu Liêm, của trường Hậu bổ (1913) và cuối cùng là thư viện Hoàng gia (1923). Phạm Quỳnh và Phạm Khắc Hòe (1945) cũng đã từng ở đây.

 5. Đình Thương Bạc

Nay vẫn còn. Đây là cái bến dành riêng cho khách nước ngoài hoặc đại diện của triều đình đi gặp nước ngoài lúc chưa có cầu Trường Tiền. Người nước ngoài đến tả ngạn sông Hương phải tuân thủ những qui định của chính quyền Việt Nam. Một trong những qui định đó là phải lên bộ bằng bến Thương Bạc, chờ ở đó khi có nhân viên Việt Nam đến gặp và cho phép mới được đi. Cho mãi đến sau ngày kinh đô thất thủ, những qui định nầy mới hết hiệu lực và bọn Pháp muốn đi dầu tùy ý chúng. Đài Thương Bạc ngày nay là một biểu tượng thời đất nước có chủ quyền.

6. Ty Tam Pháp

Khu đất xây dựng trường tiểu học Thượng Tứ (trước kia cũng gọi là Paul Bert, ngày nay là Phú Hòa) ngày xưa là nơi tọa lạc của Ty Tam Pháp (Le Bureau de Trois Règles). Đây là cái “ diễn đàn để cho nhân dân đến “ kêu” khi họ bị xử phạt giam cầm một cách oan uổng, bất công. Ty nầy được xây dựng dưới thời Minh Mạng (1832). Những người kêu oan đến đội một cái đơn  lên đầu rồi đánh mấy tiếng trống (gọi là Đăng - văn - cỗ). Đánh xong rồi tự trói mình ngồi đó chờ. Nhà vua cho người ra xem. Nếu oan ức thật thì sẽ được “ giải oan “, nếu có tội mà kêu oan thì sẽ trừng trị nặng hơn.

7. Trường huấn luyện của đội Võ lâm

Trên đường cửa Ngăn (tên chữ là cửa Thể Nhân) phía bên tay phải ngày xưa là bãi tập của đội Võ lâm - một đơn vị của bộ đội Hoàng gia.

8. Phu Văn Lâu                                    

Phu Văn Lâu người Pháp chuyển ngữ thành Papillon des Edits. Phu là ban ra. Văn là bản văn (của triều đình). Xây dựng ở chính giưã phía nam ngoài Kinh thành, xây mặt về hướng Nam, 2 tầng lầu. Khi có chiếu thơ và bảng thi Hội, thi Đình đều treo ở đây. Vì thế mà trước kia cũng có tên là Đình bảng. Dựng lên từ năm Gia Long thứ 18 (1819), phía đông nam lầu có trại dài để thuyền rồng. Năm Thành Thái thứ 16 (1904) tu sửa hai tòa nhà vuông ở hai bên phải và trái, năm 17 (1905) tu bổ lại và làm một tấm biển, bên trái khắc chữ  “ Dựng ngày tháng 6 năm Gia Long 18 (1819), bên phải khắc “ Dựng mới lại ngày tháng 2 Thành Thái 17” (1905).

Tới ngày 22/8/1945, Bảo Đại đã cho trao chiếu Thoái vị ở đây để thông báo với nhân dân rằng nhà vua đã đồng ý thoái vị, trao quyền hành lại cho nhân dân.

9. Đình Nghinh Lương

Nằm ngay trước Phu Văn Lâu, sát bờ sông Hương. Đây là bến thuyền của vua mỗi lần ông muốn đi lại trên sông Hương. Đây cũng là nơi vua ra hóng mát vào những ngày viêm nhiệt. Trong dân gian thường gọi là nhà Lương tạ.

Tương truyền ngày xưa ở Huế, Bác Hồ hay cùng bạn bè cùng lứa tuổi ra đây chơi hóng mát vào những đêm hè trăng thanh gió mát.

Nghinh Lương đình dành cho các bà Hoàng thái hậu ở ngay con đường từ cửa Quảng Đức (cửa sập) ra sông Hương.

10. Long Thuyền                                      

Hai bên nhà Lương tạ là hai vệ tả, Hữu của đội Long Thuyền.

Vua Tự Đức có một chiếc Tế thông là một lâu thuyền dài 30 m, rộng 4m. Các chiếc Tường Long, Bình Định và một chiếc thuyền đi bắn chim là chiếc Tương Đắc, do các cung nữ chèo. Hoàng Thái Hậu Từ Dũ có chiếc Yến Dư cũng do các cung nga thế nữ chèo.

Long thuyền các vị vua sau Tự Đức nhỏ hơn và không có lầu thượng, mui bằng và hơi xuôi về hai bên, trước mũi trở thành đầu rồng, sau lái thành đuôi rồng, tất cả đều có sơn son thếp vàng.

Tất cả người chèo đều tuyển lựa ở hạt Thừa Thiên

11. Mộc Thương

Mộc Thương là cái kho gỗ của triều đình. Trước kia xây dựng ở phía ngoài Đông nam Kinh Thành, gần cầu Gia Hội, năm Minh mạng thứ 10 (1829) dời về vườn ươm (giữa cửa Sập và cửa Nhà Đồ) ngày nay. Mộc thương đã dẹp bỏ từ năm 1905.

12. Đình Phường Một

Nằm trên đường Huỳnh Thúc Kháng ngày nay. Gọi là Đệ nhất phường Đình. Đây là một di tích đánh dấu mảnh đất số 1 của thành phố Huế ngày nay.

13. Sở Tế Sinh

Sở mổ heo bò cung cấp thịt cho Kinh đô và Thành phố Huế. Nguyên trước kia làm ở phường Bảo Hòa sau dời ra ngoài cánh cửa Chánh Nam. Năm Thành Thái thứ 2 (1890) dời qua phường Thanh Long. Sau thấy chỗ ấy bị nước ứ, thiếu vệ sinh, làm cho nhà của hư hại bèn dời qua phía phải cầu Bạch Hổ (1904). Lên trên ấy xa, không tiện, vua Thành Thai cho đắp đất chỗ cũ nâng cao nền móng, cho dời về lại phường Thanh Long làm một tòa chính đường và hai tòa ở hai bên phải, trái (trong nhà có làm ghế cao để đặt mổ súc vật cho vệ sinh và tiện lợi). Sở tế sinh bị triệt hạ cách đây không lâu.

Qua phần trình bày ngắn gọn ở trên chúng ta thấy khu phố, thị Đông Ba có những đặc điểm sau ( dưới góc nhìn của nhà nghiên cứu văn hoá):

1.Phố, thị Đông Ba quan hệ với nhiều di tích văn hoá của Cố đô Huế như Kinh thành, Hộ thành hà, sông Hương, các di tích Thương Bạc, Phu văn lâu.v.v. Những di tích nầy nằm trong quần thể di tích đã được công nhận là di sản văn hoá của nhân loại nên không thể có những tác động ảnh hưởng đến chúng. Ví dụ khu phố thị Đông Ba không thể làm cao hơn, mở rộng hơn về phía Thương Bạc.v.v.

2.Đã qua rồi vài trò trung tâm thương mại phố, thị Đông Ba.Có hai phạm vi thay đổi quan trọng. a) Vai trò Kinh đô, Trung phần (Khâm sứ), thủ phủ của tỉnh Bình Trị Thiên không còn nữa; b) Vòng quanh phố, thị Đông Ba  với một bán kính không lớn đã hình thành nhiều khu thương mại nhỏ như chợ An Cựu, chợ Bến Ngự, chợ Tây Lộc, chợ Bao Vinh, chợ Kim Long .v.v.

Kết thúc bài tham luận nầy, chúng tôi xin có một lời đề nghị: Khu phố thị Đông Ba nằm gần di sản văn hoá của triều Nguyễn, nơi thu hút du khách trong và ngoài nước, hướng phát triển của phố thị Đông Ba nên nặng về văn hoá du lịch. Nếu đi ngược lại thì không những không có lợi mà còn có hại và cái hại nầy chưa có thể  ước lượng hết được. Hiện nay khu phố thị Đông Ba chưa tương xứng với vai trò phố thị của một trung tâm có di sản văn hoá của nhân loại. 

Cám ơn quý vị đã nghe tham luận nầy.

(Tọa đàm Khoa học: Huế từ văn hóa làng đến văn hóa đô thị)

             Nguyễn Đắc Xuân

Tài liệu tham khảo

Dương Văn An, Ô châu Cận lục

Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, tập I, Tủ sách cổ văn, Phủ QVKĐTVH xuất bản, Sg 1972

La Capitale du Thuận Hóa Par Võ Liêm, BAVH 1916, tr. 277-288

Ardant du Picq, Les Fortifications de la Citadelle de Hué, BAVH  1924, tr. 222- 243

H. Cosserat La Citadelle de Hué : Cartographie, BAVH  1-6/1933

Quốc sử quán triều Duy Tân, Đại Nam nhất thống chí, Thừa Thiên Phủ, Tập Thượng. Nguyên bản chữ Hán và bản dịch của Tu Trai Nguyễn Văn Tạo

Và nhiều tài liệu điền dã, tài liệu do Ban quản lý chợ Đông Ba cung cấp.


[1] Được Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đồng ý vào ngày 30.8.1899

[2] Chỗ đất trống lài lài gọi là giại. Chỗ nầy trước đó là nơi sửa chữa thuyền ngự, gọi là trại. Vì thế có người cho rằng giại là đọc lệch đi là trại. 

[3] Bác Hồ lúc đó là một cậu bé 15 tuổi mang tên là Nguyễn Sanh Côn đã theo học ở đây (1905). Lần đấu tiên Bác Hồ được đọc câu tiêu ngữ của nhà nước Cọng hòa Pháp “ Liberté, Egalité và Fraternité “ (Tự do, Bình đẵng và Bác ái). Kể từ đó, Bác đã ra sức học tiếng Pháp để xem thử văn minh văn hóa Pháp đã được thực hiên câu tiêu ngữ ấy như thế nào.

Hơn mươi năm sau, đồng chí Trần Phú (Tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam), đồng chí Phạm Văn Đồng (Thủ tướng nước Việt Nam DCCH) cũng đã học nhiều năm ở đây. Về sau trường nầy bị hư mục phải triệt hạ và xây lại ngôi trường mới ở vùng Gia Hội. Trường vẫn mang tên Đông Ba, đến cuối năm 1945 mới đổi là Gia Hội cho hợp lý (Nay là trường Phú Cát trên đường Mạc Đĩnh Chi).

[4] Ra đời từ năm 1890 theo Từ điển Văn hoá Cổ truyền Việt Nam

[5] Chợ Bến Thành có từ năm  1870, nhưng mãi đến năm 1912 mới dời đến chỗ hiện nay và khánh thành vào năm 1914 Theo Sơn Nam, Bến Nghé xưa, Nxb Trẻ, tr. 205.

[6]Nhằm ngày 21.4.1841

 

 
 
Các bài Huế xưa đến nay khác