Góp ý với Địa chí Lịch sử Thừa Thiên Huế
Là một người nghiên cứu lịch sử Triều Nguyễn và lịch sử Huế nhưng không chuyên. Do đó tôi rất hân hạnh được Sở Khoa học và Công nghệ TTH mời tham gia ý kiến bản thảo tập Địa chí Lịch sử Thừa Thiên Huế. Vì không chuyên và thời gian được góp ý kiến quá eo hẹp trong lúc phải làm nhiều việc theo kế họach đã có từ trước nên tôi chỉ nói cảm tưởng của mình qua một số vấn đề mà tôi có điều kiện hiểu rõ, đặc biệt là giai đọan kháng chiến chống Mỹ mà tôi hân hạnh được tham gia và được nghiên cứu trong thời gian tôi phụ trách Tổ nghiên cứu lịch sử Đảng bộ Thành ủy Huế sau năm 1975.

Với khả năng và thời gian cho phép, tôi xin tham gia ý kiến hạn hẹp trong 4 nội dung sau:

1. Nhận xét chung về bản thảo Địa chí Lịch sử Thừa Thiên Huế;

2. Một số vấn đề thuộc Chương Bốn: Thừa Thiên Huế thời Tây Sơn (1786-1802) (từ tr. 69 đến tr.84);

3.Giai đoạn 1965-1968 thuộc Chương tám: Thừa Thiên Huế kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) (từ tr. 282 đến 286)                                                                                          

 4. Sự kiện “Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968” thuộc Chương tám: Thừa Thiên Huế kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) (tr.288 đến 292).

I. Vài nhận xét chung:

1.1. Về phân kỳ lịch sử: Thực tế, phân bố số trang cho từng thời kỳ với một tỷ lệ tương đối hợp lý.

Tuy nhiên cách phân đọan trong Chương tám : Thừa Thiên Huế kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)                                                   252

     I. Giai đoạn 1954 -1960                                                                   252

    II. Giai đoạn 1961-1965                                                                    264

    III. Giai đoạn 1965 - 1968                                                                 282

    IV. Giai đoạn 1969 -1973                                                                  292

    V.  Giai đoạn 1973 - 1975                                                                 301

Tôi có một vài ý kiến sau:

Các tác giả phân đọan Chương tám trên theo cách phân đọan chung của chiến trường miền Nam như lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên Huế đã thực hiện. Căn cứ trên các mốc lịch sử 1954 Hiệp định Genève, 1960 thành lập Mặt trận Giải phóng; 1965 Mỹ đổ bộ vào TTH; 1968 Chiến dịch Huế mùa xuân năm 1968 (tết Mậu thân) ; 1973 Hiệp định Paris, 1975 Giải phóng Huế.

Riêng TTH mà chia như vậy nó sẽ thiếu logic, thiếu thực tế và không thấy hết được sự quan hệ giữa Phong trào đấu tranh hợp pháp và phong trào đấu tranh bất hợp pháp. Theo tôi nên chia như sau:

    I. Giai đoạn 1954 -1960                                                                  

    II. Giai đoạn 1961-1963                                                                          

   III. Giai đoạn 1963 - 1968                                                                 

    IV. Giai đoạn 1969-1973                                                                 

    V.  Giai đoạn 1974 - 1975

Cách chia nầy có giai đọan 1963-1968 không khớp với lãnh đạo và chỉ đạo chung nhưng nó gần với thực tế lịch sử: Thực tế đó là Phong trào đấu tranh lật đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, phong trào đấu tranh nhân danh “tận diệt Cần lao” phá bộ máy kềm kẹp ở đô thị và nông thôn cũ tan rã. 1964 có Phong trào đồng khởi ở nông thôn TTH. Các năm 1964 cho đến 1966, phong trào đấu tranh ở đô thị đấu tranh mạnh, gây mất ổn định không những ở Huế mà tác động cả đến Chính quyền Sài Gòn. Thành ủy Huế phát triển lực lượng ở đô thị có tác động đến phong trào đô thị. Chính quyền và quân đội Sài Gòn mất ổn định, xáo trộn, ly khai không đủ sức “chống Cộng” nên Mỹ đổ quân vào (1965). Mỹ đổ quân nên cần một chính phủ độc tài mặc áo lính ở Sài Gòn nên chúng cho đàn áp khốc liệt các phong trào đấu tranh chống Mỹ, đòi hoà bình, chống chế độ Sài Gòn. Chiến dịch Mậu thân (1968) là phối hợp tấn công (bộ đội từ ngòai vào) và nổi dậy (lực lượng quần chúng đã tham gia tranh đấu từ 1963 đến 1968). Có thể nói giai đọan 1963 đến 1968 là một giai đọan đặc biệt của TTH nên được quan tâm làm rõ.                                                                              

1.2. Phân định các sự kiện thuộc triều Nguyễn và các sự kiện của TTH. Thừa Thiên Huế là nơi đặt Thủ phủ của Xứ Đàng trong, Kinh đô của triều đại Quang Trung, Kinh đô của nước Việt Nam thống nhất gần 100 năm…do đó dễ nhập nhằng giữa sự việc của thủ phủ-Kinh đô với việc của dân TTH. Tôi thấy những người biên sọan tập sách nầy đã quan tâm đến yêu cầu đó. Tuy nhiên tôi muốn nhấn mạnh thêm: Khi trình bày các sự kiện chung của Thủ phủ-Kinh đô nên cố tìm cho ra phản ứng của dân TTH, sự đóng góp của dân TTH. Ví dụ như nói về Phong trào Cần Vương là phải nêu các vị như Thân Văn Di, Nguyễn Khoa Luận, Hòang Thông v.v.

13. Tránh dẫm đạp trùng lặp và bỏ sót. Tôi không rõ bộ địa chí tỉnh TTH gồm có mấy tập. Thông thường ngòai tập Địa chí lịch sử còn có các tập: Nhân vật lịch sử và di tích lịch sử, Địa chí nhân văn (văn học nghệ thuật, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, các ngành nghề truyền thống,v.v.). Các di tích lịch sử quan trọng chỉ nhắc qua trong tập Địa chí lịch sử TTH, còn việc khảo tả những di tích ấy như núi Bân, trường Quốc Học, Kinh thành Huế, Nhà máy vôi Long Thọ v.v. nên dành cho Nhân vật lịch sử và di tích lịch sử (nếu có). Đề nghị nên sóat xét lại những di tích nói quá chi tiết trong phần lịch sử mang tính khái quát.

1.4. Nên dùng Ngôn ngữ “phổ thông” :

Cuốn Địa chí lịch sử TTH là cuốn sách bửo bối của người TTH. Mà người TTH thì ở bên đông nhiều nhưng ở bên tây cũng lắm. Do đó biên sọan cuốn sách nầy trong thời mở cửa và hội nhập và sẽ lưu cho nhiều đời sau cho nên phải dùng “ngôn ngữ phổ thông” của sử học. Không nên dùng cụm từ miệt thị “Ngụy quyền Thừa Thiên” mà nên dùng từ “chính quyền cũ ở Thừa Thiên”. (350), nên dùng quân đội Sài Gòn thay cho Ngụy quân; và các từ xưng hô khác cũng thế. Điều quan trọng là viết làm sao cho đúng công, đúng tội, đúng thắng, đúng bại, đúng sự việc là có tác dụng tốt rồi; không nên lên gân trong khi viết sử; 

1.5. Nguồn tài liệu tham khảo

Đánh giá một công trình nghiên cứu lịch sử thông thường và  trước tiên là phải xem thử công trình đó:

-Đã sử dụng những tài liệu nào ?

-Đã khám phá thêm được những tài liệu lịch sử giá trị nào mà trước kia chưa có;

- Đã khảo chứng những tài liệu có trong tay như thế nào ?

Với thói quen như thế cho nên tôi thấy :

- Hơn 90% tài liệu được sử dụng để biên sọan là sử dụng lại những tài liệu của người đi trước biên sọan (ví dụ sách Lịch sử các Đảng bộ) chứ rất ít tài liệu đầu tay, tài liệu lọai 1, do đó giá trị khoa học không cao;

- Với những tư liệu hiện có (ngay ở Huế), nhiều tác giả chưa sờ tới, đặc biệt là các tác giả viết các chương cuối cùng với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ; Vì thời gian tôi không thể kê hết những sách tài liệu đó ra bài góp ý nầy;

- Trong chiến tranh luôn luôn có hai phía: Trịnh Nguyễn; Tây Sơn- Nguyễn Vương; nhà Nguyễn với thực dân Pháp và Đạo Thiên chúa; Cách mạng Việt Nam với thực dân Pháp; Cách mạng Việt nam với đế quốc Mỹ. Vì vậy viết sử (thời mở cửa và hội nhập) phải có nguồn tài liệu từ hai phía, nhưng phần lớn tư liệu dùng trong Địa chí lịch sử TTH chỉ có một phía của ta mà thôi; như vậy chưa khách quan;

- Viết sử là phải dùng tư liệu, nhưng chỉ được phép dùng tư liệu sau khi đã khảo chứng, có sự đánh giá về độ chính xác của nó. Nếu không sẽ nhân rộng những sai lầm của người đi trước. 

Tập Địa chí lịch sử TTH được biên sọan với nguồn tư liệu như thế mà in ra sẽ phản tác dụng.

Các dẫn chứng cho những nhận định trên sẽ được đề cập đến trong các phần sau.

II. Một số vấn đề thuộc Chương Bốn: Thừa Thiên Huế  thời Tây Sơn (1786-1802) (từ tr. 69 đến tr.84);

2.1. Tài liệu và sử dụng tài liệu:

Nhiều trích dẫn chưa đúng chuẩn xác. 

Địa chí lịch sử TTH viết “Tuy nhiên, nhà chùa vẫn được các chúa Nguyễn tôn sùng, hết lòng ngoại hộ cả vật chất lẫn tinh thần, đến khi nhà Tây Sơn làm chủ đất nước mới bắt đầu chịu đựng tai ách, trải qua một thời kì "mạt pháp". Không phải đợi đến vua Quang Trung, mà thực ra từ năm 1785, vua Thái Đức-tức Nguyễn Nhạc-đã ban sắc cho công chúng, nói rằng: "Ta chỉ căm ghét một số lớn sư sãi quy y cửa Phật với mục đích là lẩn tránh nhiệm vụ đối với triều đình và chỉ nuôi tính biếng nhác của chúng bằng lễ vật do dân chúng tiến dâng. Càng nhiều chùa chiền bao nhiêu, càng lắm sư sãi giảo quyệt và hèn hạ bấy nhiêu; mỗi làng xã đều có rất nhiều chùa chiền, song không một ngôi chùa nào xứng đáng để được gọi là chùa cả. Cho nên từ nay không được lập chùa riêng nữa, và để giảm bớt số sư sãi quá lớn, các ngươi hãy chọn trong số sư sãi đó một ít người tốt và thành tâm tu hành"(14). (tr. 79-80).

Chú thích (14) viết “Nông thôn Việt Nam trong lịch sử. Tập I. Nxb. KHXH, HN, 1977, trang 197-198.”

Đây là một đọan trích tư liệu sử học rất quan trọng theo nguyên tắc phải trưng dẫn nguồn (gốc) có giá trị  khoa học, ở đây lại dẫn một cuốn sách mới viết năm 1977;

Tra cứu lại trang 197-198 Nông thôn Việt Nam trong lịch sử. Tập I. Nxb. KHXH, HN, 1977 không có thông tin nào liên quan đến nội dung đọan trích nầy. Do lỗi của tác giả hay do người chấm morasse ?

Bên cạnh những chú thích nguồn sai, có nhiều đọan trích « nguyên văn » nhưng không ghi nguồn như đọan sau :

« Võ Văn Dũng đi qua trạm Mỹ Xuyên gặp Trần Văn Kỷ, Trần Văn Kỷ khuyên: "Quan thái sư chức vị đã cao tột bậc, trong tay nắm quyền làm oai làm phúc, lại đẩy ông ra ngoài, nếu có sự chẳng lợi cho nhà nước, các ông phỏng còn giữ được đầu chăng ? Bây giờ chẳng sớm liệu đi, sau này ăn năn sao kịp?" (tr.85).

Hoặc trích nguồn một cách lập lờ:

Theo tương truyền, chùa Kim Tiên làm nơi đóng quân, hình như hoàng hậu Lê Ngọc Hân từng ra ở đây sau khi vua Quang Trung băng” (tr. 80)

Là một người rất quan tâm đến đề tài nầy nhưng tôi chưa bao giờ nghe có tương truyền trên. Giả như có tương truyền thật  thì cũng hơi phi lý: Vì sao một người Hòang hậu như Ngọc Hân Công Chúa (Bắc cung Hòang hậu) sinh ra một công chúa và một Hòang tử vì sao lại bị đẩy ra ở một nơi của quân lính Tây Sơn ?  Một tương truyền phi lý như thế đưa vào sử làm gì. Hơn nữa chuyện Công chúa Ngọc Hân (thường gọi là bà Chúa Tiên) ở tại chùa Kim Tiên, sáng tác Ai Tư Vãn ở đó đã được Nguyễn Đắc Xuân và sau đó là Võ Xuân Trang viết đăng trên sách, tạp chí hàng chục năm qua có lẽ dễ tin hơn là “tương truyền” trên. Theo Nguyễn Đắc Xuân (*) và Võ Xuân Trang, sở dĩ Bắc Cung Hòang Lê Ngọc hân ở tại chùa Kim Tiên vì ngôi chùa nầy ở gần nơi ở của vua Quang Trung là Cung điện Đan Dương (về sau là Đan Dương Lăng) ở gần chùa Thiền Lâm.

2.2. Thừa và thiếu

Địa chí lịch sử TTH là một tập sách nằm trong nhiều tập của bộ Địa chí TTH.  Cho nên phải phân bổ nội dung cho các tập một cách rạch ròi để tránh lấn sân nhau hay ngược lại là bỏ sót. Trong Địa chí lịch sử TTH nầy có đọan khảo tả lịch sử núi Bân với 658 từ  trích dẫn dưới đây:  

Bân Sơn là một ngọn đồi cao 41m, ở phía nam thành Phú Xuân, cách núi Ngự Bình khoảng 620m về phía tây, nay còn được gọi là núi Ba Tầng hoặc độn Tầng, thuộc xóm Hành, thôn Tứ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế. Việc xây dựng lễ đàn chỉ thực hiện trong vòng một ngày, vì tình hình đất nước đang rất khẩn trương. Hôm cử hành lễ, hầu như toàn bộ lực lượng quân sự và dân sự của vua Quang Trung đều có mặt, dàn khắp chung quanh với voi ngựa, cờ quạt, tàn lọng trong bầu không khí oai nghiêm, hùng tráng. Trên đỉnh đồi, tân quân cùng văn võ đại thần làm lễ tế Trời, công bố bài chiếu lên ngôi. Ngay hôm đó, nhà vua hạ lệnh mở cuộc Bắc tiến, đánh đuổi giặc xâm lược Mãn Thanh, và chỉ 40 ngày sau, ngài đã ghi vào trang sử hào hùng một chiến công hiển hách nữa trên đất Bắc.

Bân Sơn nguyên là một ngọn đồi tự nhiên được cấu tạo bằng sa phiến thạch. Khi chọn nó để thiết lập lễ đàn, người ta đã cải tạo bằng cách xẻ, ban, đắp thành ba tầng đất tượng trưng cho thuyết “tam tài: Thiên, Địa, Nhân”. Sau hai trăm năm, vẫn còn thấy được khá rõ dấu vết của lễ đàn trên thực địa. Di tích đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận theo Quyết định số VH/QĐ ngày 18-1-1988. Hồ sơ hiện lưu trữ tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Thừa Thiên Huế đã mô tả như sau:

“Di tích hiện nay là một ngọn đồi cao 41m, có chiều dốc 240, có diện tích toàn bộ 80.596m2, ở vào vị trí 107026’35’’ độ vĩ Bắc và 107035’37’’ độ kinh Đông. Di tích được xẻ thành ba tầng đồng tâm, tạo thành ba khối hình nón cụt chồng lên nhau theo chiều cao biểu hiện tư tưởng và quan niệm một đàn tế Thiên-Địa-Nhân. Tầng một từ chân đồi lên đỉnh ở độ cao 37 mét, có chu vi 220 mét, bề rộng không đều nhau, ở phía bắc 19 mét, phía nam 16,8 mét, phía đông và tây là 12 mét. Tầng hai có chu vi 122,5 mét, bề rộng trung bình của tầng này là 10,5 mét (phía bắc 8,4 mét, nam 10,7 mét, hai phía tây và đông 10,5 mét); chiều cao so với tầng thứ nhất là 1,65 mét, khoảng cách chiều dốc của hai tầng này là 3 mét ở phía tây nam. Tầng ba có đắp thành một hình nón cụt rất phẳng và đều. Tầng này cao so với tầng hai là 1,2 mét, chiều nghiêng giữa tầng hai và ba tương đối thoải, độ dốc 3,7 mét ở phía tây nam. Đường kính mặt bằng 18,6m và chu vi là 52,7 mét; mặt của tầng này rất phẳng, có lẽ chính đây là nơi thiết ngự triều của hoàng đế Quang Trung”.

Từ mặt đất thường lên đến vị trí cao nhất (41m), các tầng nối lại với nhau bằng bốn con đường dốc thoai thoải dùng để lên xuống, tỏa ra bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Ngay trước mặt mỗi con đường ấy đều có một ngọn đồi ở cách xa xa làm bình phong cho nó. Quanh dưới chân Bân Sơn, xưa kia là những bãi đất trống, rất rộng và tương đối bằng phẳng, có thể tập kết được hàng vạn binh sĩ, voi ngựa và đại pháo. Nay đứng trên tầng cao nhất của ngọn đồi lịch sử này để nhìn ra bốn phía chung quanh, thấy rõ người xưa đã khéo chọn một địa điểm có không gian bao la hoành tráng. Nhìn chung, cấu trúc của lễ đàn tuy đơn giản nhưng bảo đảm được nguyên tắc chủ yếu trong việc thiết lập một đàn tế trời và duyệt binh.” (tr.74-75)

Có lẽ chỉ nên viết khỏang 1/10 đọan trên là vừa còn chuyển di tích nầy qua Tập Các di tích lịch sử văn hóa trên đất TTH thì hợp lý hơn.

Trong lúc đó Chương Bốn “TTH Thời Tây Sơn” lại không đề cập gì về sự kiện vua Quang Trung qua đời, lăng mộ vua Quang Trung ở đâu ? … Đó là những vấn đề mà người đọc lịch sử TTH cần muốn biết. Nếu chưa trả lời được thì cũng phải nêu vấn đề để người sau suy nghĩ và nghiên cứu trả lời. Nhưng phải chăng các nhà nghiên cứu và tài liệu lịch sử chưa cung cấp được một thông tin nào về những sự kiện trên ? Ít ra cũng đã có một cái tên Đan Dương Lăng chứ ! 

2.3. Chưa dụng công làm sáng rõ những khoảng tối của lịch sử.  

Một sự việc nhỏ ẩn chứa bao nhiêu vấn đề lớn :

Địa chí lịch sử TTH viết : « Sau khi ông (vua Quang Trung) mất, thái sư Bùi Đắc Tuyên nắm hết quyền hành, chọn nơi ở và làm việc cách biệt với triều đình, tại chùa Thiền Lâm phía nam sông Hương » (tr.85)

Vì sao Bùi Đắc Tuyên chọn chùa Thiền Lâm mà không chọn chùa Báo Quốc, chùa Quốc Ân hay ở gần đó là chùa Ấn Tôn mà lại ở Thiền Lâm ? Cần phải lý giải lý do nầy chứ không nên xem như một ngẫu nhiên. Phải chăng lăng Đan Dương của vua Quang Trung ở gần đâu đó, Bùi ở Thiền Lâm để nhân danh vua Quang Trung mà chuyên quyền chăng? 

Địa chí lịch sử TTH viết :« Dũng lại giả tờ chiếu lệnh cho Nguyễn Quang Thùy bắt Ngô Văn Sở đóng gông giải về kinh và sai Nguyễn Văn Huấn vào Quy Nhơn bắt con Bùi Đắc Tuyên là Trụ đem ra, rồi dìm nước chết hết » (tr.85).

Đây là một sự kiện đã gây nhiều tranh cãi. Địa chí lịch sử TTH viết lại sự kiện nầy mà không cho biết căn cứ vào sử liệu nào, xem như một việc hiển nhiên đã được lịch sử công nhận. Đọan trích nầy chứng tỏ Ngô Văn Sở và Bùi Đắc Trụ đã bị bắt và bị giải về Kinh và đã bị  “dìm nước chết hết ». Thế thì còn ông Ngô Văn Sở nào chạy vào đầu hàng Nguyễn Vương và sau đó làm Trấn thủ Thanh Hoa ngọai và có con gái là Ngô Thị Chính làm dâu vua Gia Long như nhà nghiên cứu Phan Thuận An đã viết trước đây ? Phải chăng « Dũng lại giả tờ chiếu lệnh cho Nguyễn Quang Thùy bắt Ngô Văn Sở đóng gông giải về kinh » nhưng đó chỉ là chủ trương, còn thực tế có làm được hay không lại là chuyện khác. Phải chăng khi viết Địa chí lịch sử : vấn đề gì giải quyết được thì viết rõ, vấn đề gì còn nghi vấn cũng phải nói rõ nghi vấn, nếu không thì sẽ gây nhiễu thông tin. 

Địa chí lịch sử TTH viết: « Quân Nguyễn nhanh chóng tiến lên cửa Eo (Hòa Duân). Ngày 13-6 (3 -5-Tân Dậu), Nguyễn Quang Toản cùng các quan mang theo của báu chạy ra Bắc, vất bỏ cả sắc ấn do nhà Thanh ban cho (Tại Thăng Long, Nguyễn Quang Toản đổi niên hiệu là Bảo Hưng, cùng Nguyễn Quang Thùy mưu việc khôi phục, nhưng rốt cuộc không thể cứu vãn nổi). Nguyễn Ánh chiếm lại thành Phú Xuân, tổ chức ngay bộ máy cai trị, cắt ba huyện Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang của phủ Triệu Phong lập dinh Quảng Đức, gọi là dinh trực lệ. Ngày 31-5-1802 (1-5-Nhâm Tuất), Nguyễn Ánh lập đàn tế cáo trời đất ở cánh đồng làng An Ninh về việc đặt niên hiệu Gia Long; hôm sau, ban chiếu cho thiên hạ biết ». (tr. 86)

Các tác giả đã bỏ qua sự kiện gây nhức nhối lịch sử Việt Nam là chuyện vua Gia Long làm lễ Hiến Phù “quật mồ, bổ săng, tán xương, giam sọ dừa” (Đại Nam thực lục) của anh em nhà Tây Sơn.  Vì thế cũng bỏ qua nốt sự kiện năm 1790: Nhà Tây Sơn đã cho quân lính quật hết lăng các chúa Nguyễn và lăng Nguyễn Phúc Luân - thân sinh của vua Gia Long.

III.Giai đoạn 1965-1968 thuộc Chương tám: Thừa Thiên Huế kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) (từ tr. 282 đến 286)

Giai đọan 1965-1968, tôi vừa là người trong cuộc vừa là người nghiên cứu (Tổ nghiên cứu lịch sử Đảng bộ Thành ủy Huế). Tuy nhiên thời gian không cho phép cho nên tôi không thể góp ý cho tòan bộ nội dung bản thảo đã dành cho giai đọan nầy. Để tránh lối phê phán, góp ý chung chung, tôi xin trích dẫn một đọan 687 từ sau đây để góp ý giống như một người làm biên tập ở các Nhà xuất bản hoặc ở Tòa sọan các tạp chí. 

Địa chí lịch sử TTH viết : “Cùng với các cuộc đấu tranh vũ trang và mở rộng vùng giải phóng nông thôn là sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh chính trị ở thành phố Huê.Tiếp tục các cuộc đấu tranh vào đầu năm 1965, trong tháng 8-1965, sinh viên Huế đã lập ra Ủy ban đấu tranh với các khẩu hiệu chống chủ nghĩa quân phiệt, chống hàng ngũ hóa thanh niên sinh viên học sinh, chống sắc lệnh động viên tập thể, bắt giáo sư và sinh viên đi lính. Liên tiếp từ ngày 21 đến ngày 24-8-1965, sinh viên Huế đã xuống đường dùng loa phóng thanh đọc bản tuyên ngôn đòi lật đổ Thiệu-Kỳ. Ngày 29-8-1965, hơn 4.000 sinh viên tiếp tục biểu tình chống Thiệu-Kỳ. Hưởng ứng phong trào, tín đồ Phật giáo phối hợp với sinh viên học sinh tổ chức “những đêm không ngủ “ với nội dung lên án chiến tranh xâm lược của Mỹ.

Phong trào đấu tranh chính trị năm 1965 đã góp phần nâng cao ý thức chính trị trong nhân dân, giúp các tầng lớp trung gian hiểu rõ hơn về chính sách xâm lược của Mỹ và bản chất tay sai của chính quyền Sài Gòn, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho Huế bước vào cao trào đấu tranh chính trị 96 ngày đêm mùa hè năm 1966.

Ngày 11-3-1966, Nguyễn Chánh Thi-Tư lệnh Quân khu I  bị Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cách chức. Sau sự kiện này, ngụy quyền ở Huế hết sức hoang mang dao động. Nhân cơ hội đó, các tầng lớp nhân dân đã xuống đường đòi hòa bình, chống chiến tranh, đòi lật đổ Thiệu-Kỳ. Cả Huế vùng lên, học sinh bãi khóa, tiểu thương bãi chợ, công chức bãi việc, quần chúng tổ chức tuần lễ tẩy chay quân Mỹ. Cuộc đấu tranh đã hình thành một mặt trận rộng rãi, tạo nên phong trào liên minh hành động có tính chất bạo lực chống Mỹ và tay sai giữa nhân dân lao động và sư đòan I ngụy đòi ly khai khỏi ngụy quyền Sài gòn. Ngày 12-3-1966, tại chùa Diệu Đế, Phật giáo Huế tổ chức một cuộc mít tinh và thành lập lực lượng tranh thủ cách mạng. Các tổ chức này đã ra thông báo đòi phải triệu tập ngay đại hội dự thảo hiến pháp và đòi các tướng lĩnh trở lại cương vị quân sự, thực chất là đòi lật đổ Thiệu-Kỳ.

Cuộc đấu tranh quyết liệt của các tầng lớp nhân dân đã đẩy kẻ thù rơi vào cuộc khủng hỏang chính trị trầm trọng, địch không kiểm soát được thành phố Huế. Ngày 4-4-1966, Thiệu-Kỳ đưa quân từ Sài gòn ra Đà Nẵng hòng đàn áp phong trào, nhưng trước sức đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, bọn chúng buộc phải rút quân về. Ngày 15-5-1966, Thiệu-Kỳ đưa quân ra Đà Nẵng lần thứ hai. Tại số nhà 22 Trương Định Đoàn sinh viên quyết tử được thành lập để làm nhiệm vụ lực lượng vũ trang của phong trào. Ngày 17-5, tại sân bay Tây Lộc, hàng ngàn đồng bào cùng thanh niên, học sinh, sinh viên bao vây tên tướng Huỳnh Văn Cao, khi y theo lệnh của Thiệu-Kỳ ra Huế để bày kế họach đàn áp. Mỹ phải đưa trực thăng đến giải cứu. Ngày 26-5, sinh viên tấn công Trung tâm văn hóa Mỹ, đốt cháy trên 10.000 cuốn sách của thư viện Mỹ. Ngày 31-5, học sinh Nguyễn Thị Vân tự thiêu tại chùa Thành Nội. Cùng ngày hôm đó, sinh viên đốt cháy lãnh sự Mỹ tại Huế.

Đầu tháng 6-1966, Thiệu-Kỳ đưa một tiểu đoàn đến Huế, ra lệnh thiết quân luật và đàn áp dã man phong trào đấu tranh của đồng bào. Không chịu khuất phục, đồng bào đã đưa bàn thờ Phật ra đường, tiếp tục đấu tranh, gây cho địch nhiều khó khăn. Cho đến ngày 19-6, Thiệu-Kỳ mới lập lại được sự kiểm sóat trong thành phố. Cuộc khủng hoảng đã chấm dứt, song ”một không khí yên tĩnh nhưng đầy lo âu vẫn bao trùm lên Đà Nẵng và Huế”.(56)

 31. Góp ý:  Đọan trích nầy có những điểm cần trao đổi sau đây:

sinh viên Huế đã lập ra Ủy ban đấu tranh”  Ủy ban gì ?  Cần phải nêu tên của cuộc đấu tranh. Các tên ấy nêu lên khẩu hiệu của các cuộc đấu tranh. Không nên viết chung chung. 

Hưởng ứng phong trào, tín đồ Phật giáo phối hợp với sinh viên học sinh tổ chức” Tôi là người phụ trách tổ chức của cuộc đấu tranh mùa hè 1965, sở dĩ Phong trào đấu tranh phải ngưng lại giữa chừng vì không được đồng bào Phật tử ủng hộ. Cho nên không thể có chuyện “tín đồ Phật giáo phối hợp với sinh viên” tháng 8/1965.

“Nguyễn Chánh Thi-Tư lệnh Quân khu I” Lúc ấy không còn tổ chức Quân khu, mà là Vùng I Chiến thuật; dưới Vùng là Khu (chiến trường Trị Thiên là khu 11 chiến thuật). Bởi thế Nguyễn Chánh Thi đã bị đồng bào Huế chưởi khi nghe Thi nói :” Đồng bào trong khu tôi”  (tức khu 11 chiến thuật);

-“sư đòan I ngụy đòi ly khai khỏi ngụy quyền Sài gòn” Trong cuộc đấu tranh mùa hè 1966, Sư đòan I quân đội Sài Gòn đã ly khai thực sự chứ không còn đòi nữa. Giữa đòi và đã, tác động chính trị  khác nhau hòan tòan. Thực tế là như thế và nhiều Tổng kết về binh vận của ta cũng đã khẳng định như thế. Báo chí quốc tế đã viết và ghi nhiều hình ảnh về sự kiện ly khai nầy.

“Ngày 15-5-1966, Thiệu-Kỳ đưa quân ra Đà Nẵng lần thứ hai. Tại số nhà 22 Trương Định Đoàn sinh viên quyết tử được thành lập để làm nhiệm vụ lực lượng vũ trang của phong trào. Ngày 17-5, tại sân bay Tây Lộc, hàng ngàn đồng bào cùng thanh niên, học sinh, sinh viên bao vây tên tướng Huỳnh Văn Cao, khi y theo lệnh của Thiệu-Kỳ ra Huế để bày kế họach đàn áp. Mỹ phải đưa trực thăng đến giải cứu”

Đọan trích bản thảo nầy có 83 từ mà sai về thời gian, sai về thứ tự trước sau của các sự kiện, sai về địa điểm, sai về nội dung của các sự kiện:

-“Ngày 15-5-1966, Thiệu-Kỳ đưa quân ra Đà Nẵng lần thứ hai”  thì Đòan Sinh viên Quyết tử đã được thành lập 1 tháng 10 ngày rồi và đã có mặt ở Huế, Đà Nẵng, Đồng Hà, Tam Kỳ, Quảng Ngãi.

- Đoàn Sinh viên Quyết tử được thành lập ngày 5.4.1966 tại Giảng Đường C (Morin) chứ không phải tại 22 Trương Định, Đòan được thành lập ngay sau khi Chính phủ Thiệu Kỳ tuyên bố sẽ đưa quân ra “làm cỏ phong trào đấu tranh ở Đà Nẵng và Huế”. Đòan Sinh viên Quyết tử do tôi làm Đoàn trưởng; Tôi đã viết hồi ký về sự kiện nầy và đã đăng trên Tạp chí Lịch sử Quân sự Việt Nam số 4 (7-8/2002) và 5 (9-10/2002).

-“Ngày 17-5, tại sân bay Tây Lộc, hàng ngàn đồng bào cùng thanh niên, học sinh, sinh viên bao vây tên tướng Huỳnh Văn Cao, khi y theo lệnh của Thiệu-Kỳ ra Huế để bày kế họach đàn áp. Mỹ phải đưa trực thăng đến giải cứu”.  Ngày 17-5 lực lượng tranh đấu phải đương đầu với quân đội Thiệu Kỳ tại đèo Hải Vân và sắp đến hồi kết cuộc. Chuyện Huỳnh Văn Cao ra Huế xảy ra vào trung tuần tháng 4.1966, sự việc diễn ra ở Mang Cá - chứ không phải tại sân bay Tây Lộc. Khi Huỳnh Văn Cao xuất hiện trước cửa máy bay trực thăng thì bị một sĩ quan ly khai là Nguyễn Đại Thức rút súng ngắn bắn nhưng không trúng Cao. Lính Mỹ ôm súng máy gác trên trực thăng bắn trả và Nguyễn Đại Thức đã chết tại chỗ. Hoàn toàn không có chuyện “Mỹ phải đưa trực thăng đến giải cứu” . Sau đó nhà thơ Ngô Kha lấy tên Nguyễn Đại Thức đặt cho chiến đòan của anh mới thành lập theo gương Sinh viên Quyết tử để chống  Mỹ Thiệu Kỳ.

Cũng cần phải viết thêm, sau khi Đoàn Sinh viên Quyết tử ra đời, Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức thành lập, tinh thần võ trang tranh đấu lan rộng đến nhiều tầng lớp nhân dân. Có thể kể như Đoàn Học sinh Xung kích, Công chức chống đàn áp, Giáo chức tranh thủ dân chủ, Nữ sinh cứu thương.v.v. Thậm chí Gia đình Phật tử, Thanh niên Phật tử là những đòan thể chủ trương bất bạo động cũng phải tổ chức thành các đơn vị Bách nhân đội đi học vũ trang để tự vệ. Sau ba năm (1963-1966) đấu tranh chính trị hòan tòan bất bạo động, đến mùa hè 1966 phong trào tranh đấu ở Huế vươn lên vũ trang đánh dấu một bướt ngoặt mới của Phong trào đấu tranh ở thành phố Huế;

- “Ngày 26-5, sinh viên tấn công Trung tâm văn hóa Mỹ”  Xin sửa lại sự kiện nầy như sau: “Ngày 26-5, thanh niên, sinh viên, học sinh và đồng bào Huế đã đập phá và đốt cháy cơ quan Thông tin-Văn hóa Mỹ (USIS) tại 8 LýTthường Kiệt Huế.”  

-“Cho đến ngày 19-6, Thiệu-Kỳ mới lập lại được sự kiểm sóat trong thành phố. Cuộc khủng hoảng đã chấm dứt”. Không thể dùng  từ “khủng hỏang” (crise) ở đây. Cuộc đấu tranh mùa hè 1966 ở Huế là một phong trào đấu tranh lớn, Phong trào đó bị chính quyền Thiệu Kỳ với sự ủng hộ của Hoa Kỳ đã dìm trong máu. Nên thay chữ “Cuộc khủng hỏang” bằng “Cuộc đấu tranh”. Khi cuộc đấu tranh bị đàn áp, nhiều trí thức sinh viên, học sinh đã thóat ly ra vùng giải phóng và không lâu sau đó họ trở thành những cán bộ nòng cốt của Chiến dịch Huế Xuân 1968. Những người không chọn con đường thóat ly thì bị bắt (như Bửu Tôn, Tôn Thất Kỳ) hoặc bị đưa vào lính (Vĩnh Kha).

Cuộc đấu tranh mùa hè 1966 có sự lãnh đạo của Thành ủy Huế, nhưng suốt đọan trích trên không thấy vai trò của Thành ủy ở đâu cả. Theo tôi biết, anh Lê Công Cơ là người trực tiếp lãnh đạo và anh đã có một báo cáo cho Thành ủy. Tác giả đọan trích trên nên tìm tham khảo để bổ sung cho bài nghiên cứu.

3.2. Một vài ý kiến riêng: Biên tập một đọan ngắn trên mà đã lẩy ra được chừng ấy sai sót. Những sai sót đó đề cập đến bộc lộ ra những vấn đề cần phải quan tâm sau:

- Viết địa chí để cho dân địa phương căn cứ vào đó mà thực hiện trên nhiều lĩnh vực, nếu viết không đúng sẽ phản tác dụng. Chỉ cần một vài chi tiết thực tế có thể kiểm chứng được ngay mà sai thì tòan bộ tác phẩm sẽ bị nghi ngờ. Viết sử là viết chuyện thời sự trong quá khứ, tối thiểu sự kiện lịch sử phải thỏa mãn 5 yếu tố: cái gì (What), ở đâu (Where), khi nào (When), Chủ thể tác động là ai (Who), và rồi ra thế nào (How) ?  Vì thế cho nên đòi hỏi phải viết các tổ chức tranh đấu, các đơn vị của địch, tên và chức vụ của người tác động chính, địa điểm xảy ra các sự kiện rõ ràng, đúng người đúng việc. Sau mỗi sự kiện đều để lại hậu quả tốt và xấu cho tình hình chính trị sau đó. Không có một sự kiện lịch sử nào bất ngờ xảy ra và biến đi mà không để lại hậu quả của nó.

- Nguyên do của những sai nhầm lịch sử nêu trên do các tác giả thiếu tài liệu và sử dụng một cách dễ dãi những tài liệu báo chí và hồi ức thời bao cấp. Cuộc đấu tranh yêu nước của mảnh đất có Cố đô Huế đã có hàng trăm nếu không nói là hàng ngàn sách báo, công trình nghiên cúu trong và ngòai nước đã công bố nhưng không thấy tác giả tham khảo. Một số lớn cán bộ lãnh đạo, những người tham gia trong cuộc còn mạnh khỏe, nhưng cũng không hề thấy có một dẫn chứng phỏng vấn thực tế nào. Cuộc chiến đấu của nhân dân TTH có tầm quốc gia và quốc tế nhưng sau gần 30 năm lại được viết lại ở tầm tỉnh lẽ. Cuốn địa chí lịch sử TTH ra đời vào đầu thế kỷ XXI không những để phục vụ cho chính quyền và đồng bào địa phương thời hội nhập mà nó còn đóng góp cho lịch sử đấu tranh chung của dân tộc. Và chắc chắn sẽ được Kiều bào và các nhà sử học nước ngòai, đặc biệt là Pháp và Mỹ sẽ tham khảo. Chúng ta thử tưởng tượng những bạn đọc đó sẽ nghĩ gì khi đọc một tác phẩm nghiên cứu khoa học - một công trình lớn đầu tiên của tỉnh TTH mà chỉ viết được có thế ?             

IV. Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 (từ tr. 288 đến tr. 292)

Cũng theo cách góp ý trên, tôi xin trích một số đọan để biên tập. Địa chí lịch sử TTH viết :

Vấn đề lớn đặt ra cho Bộ Tư lệnh Quân khu và Thành ủy Huế là đánh chiếm Huế như thế nào, đánh bằng phương thức nào và với lực lượng nào, trong khi thời gian hết sức cấp bách và Huế được địch tổ chức phòng ngự kiên cố. Ở vòng ngoài, có trung đoàn ngụy gồm 4 tiểu đoàn thường họat động tuần tiễu ở các huyện vùng ven Phú Vang, Hương Trà, Hương Thủy. Có trung đòan 7 thiết giáp làm nòng cốt ở Tam Thai. Ở phía Bắc và Nam Huế được che chắn bởi hai cánh quân Mỹ đóng ở Phú Bài và Đồng Lâm với những căn cứ quân sự kiên cố, được yểm trợ bằng những trận địa pháo binh và một trung đòan xe tăng đóng ở ấp 5 cách Huế 18 km về phía Nam”.

Ý kiến:

- Quân đội Sài Gòn Trung đòan nào cũng có 4 tiểu đòan cả, điều cần biết ở đây là trung đòan đó tên gì, nếu biết được do ai chỉ huy nữa càng tốt hơn;

- Trong chiến tranh chống Mỹ, chính quyền Sài Gòn chia vùng nông thôn thành các quận chứ không tổ chức các huyện;

- Trong quân sự, khi tác chiến mới dùng từ “cánh quân” gồm có nhiều đơn vị, nhiều binh chủng, hết chiến dịch thì giải tán. Lực lượng của Mỹ đóng ở Phú Bài và Đồng Lâm lúc đó là  hai căn cứ quân sự, không phải “hai cánh quân”. Điều lịch sử muốn biết là các đơn vị nào đã ở  trong hai căn cứ đó;  

- “ấp 5” thuộc làng Dã Lê xã Thủy Phương cách Huế chừng 9Km chứ không thể 18 Km. Trong quân sự mà sai số đến 100% như thế thì vào cửa tử;

Địa chí lịch sử TTH viết : “Trong khi đó tại Huế có sư đòan 1 ngụy đóng ở Mang Cá; đồn Phan Sào Nam là căn cứ của tiểu khu Thừa Thiên; khu Đại Nội, khách sạn Thuận Hóa và khách sạn Hương Giang là nơi cư trú của cố vấn Mỹ, ngã năm trên đường từ cầu Tràng Tiền qua An Cựu có trụ sở của 2 tiểu đoàn cảnh sát dã chiến”

Ý kiến:

- Khách sạn Hương Giang ( trước đây và bây giờ) là khách sạn du lịch, không bao giờ là nơi cư trú của cố vấn Mỹ cả.

- Từ cầu Tràng Tiền về An Cựu không có “ngã năm” nào cả mà chỉ có “Ngã Sáu”, trước đây thường gọi là “Ngã sáu bót cò” tức ngã sáu trước Nhà văn hóa Trung tâm ngày nay. Có lẽ tác giả đã sử dụng một tài liệu cũ nào đó không chính xác nhưng không kiểm chứng lại nên sai. Đây là một ví dụ về chuyện sử dụng thông tin của người viết trước mà không khảo chứng. Dùng liều.   

Địa chí lịch sử TTH viết :“Ở cánh Bắc, bộ đội ta tấn công vào các mục tiêu đồn Mang cá (Sở chỉ huy sư đoàn 1 ngụy), sân bay Tây Lộc, khu cột cờ Đại Nội, đánh chiếm Cửa Hữu, cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba, khu Gia Hội, chợ Đông Ba và các mục tiêu vành ngoài như Kim Long, Kẻ Vạn, cầu Bạch Hổ, cầu An Hòa, Đốc Sơ, Bồn Trì, Bồn Phổ, An Lưu

Ý kiến : Các đơn vị đã tấn công vào các mục tiêu trên đều có tên và người chỉ huy, sao không ghi tên ? Không ghi tên những đơn vị nầy thì làm sao nhớ ơn họ ?

Địa chí lịch sử TTH viết : Đúng 9 giờ sáng ngày 31-1-1968, lá cờ của địch bị hạ xuống, lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam hiên ngang lần đầu tiên xuất hiện, phấp phới tung bay trên đỉnh cột cờ trước cửa Ngọ Môn”

Ý kiến:

- Đầu năm 1968, tôi và anh Hòang Phủ Ngọc Tường được mời tham mưu cho lãnh đạo Thành ủy Huế thành lập Măt trận Liên Minh các Lực Lượng Dân Tộc, Dân chủ và Hòa Bình thành phố Huế và thiết kế mẩu cờ cho Mặt trận Liên Minh. Tôi khẳng định: lá cờ hiên ngang lần đầu tiên xuất hiện, phấp phới tung bay trên đỉnh cột cờ trước cửa Ngọ Môn là cờ của Măt trận Liên Minh các Lực Lượng Dân Tộc, Dân chủ và Hòa Bình chứ không phải cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Cờ Liên Minh theo chiều dọc chia làm ba phần bằng nhau, phần ở giữa màu đỏ với ngôi sao vàng, hai phần hai bên màu xanh. Hiện nay tôi vẫn còn giữ hình ảnh của lá cờ nầy.

 Địa chí lịch sử TTH viết:“Hình ảnh chiến đấu anh dũng của tiểu đội thép 11 cô gái sông Hương là một bằng chứng tuyệt vời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân Thừa Thiên Huế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Đêm 11 rạng 12-2-1968, tiểu đội được phân công đánh địch ở chợ Cống có sự phối hợp của 1 tổ thuộc đơn vị K10. Tiểu đội được chia thành 3 tổ: 1 tổ do chị Liên phụ trách chặn đánh địch ở sân vận động, 1 tổ do chị Cúc phụ trách chặn đánh địch ở chợ Cống, 1 tổ dự bị. 7 giờ sáng ngày 12, lực lượng địch gồm 1 trung đòan quân Mỹ và lính Nam Triều Tiên có xe bọc thép yểm trợ mở cuộc phản kích. Khi địch còn cách địa điểm phục kích 20 mét, súng B.40 của tổ K10 đã nhằm thẳng hướng xe tăng địch nhả đạn, 4 xe tăng địch bốc cháy. Trong khi đó tổ của chị Liên đánh bộ binh địch, buộc chúng phải rút lui khỏi sân vận động. 13 giờ chiều, địch chia làm 2 mũi tấn công dữ dội vào 2 chốt chặn của tiểu đội. Các nữ du kích kiên cường đánh trả địch. Khi chị Cúc bị thương, tổ dự bị do chị Hợi chỉ huy được điều động bổ sung. 15 giờ chiều, địch buộc phải rút lui. Ngày 13, địch phản công dữ dội hơn. Từ 10 giờ sáng, địch mở màn bằng trận lựu đạn cay, tiếp sau đó là cuộc tấn công bằng pháo binh, khi tiếng pháo vừa dứt thì lực lượng bộ binh triển khai tấn công. Cùng với tổ chủ lực K.10, tiểu đội nữ du kích anh dũng chiến đấu buộc địch phải rút lui. 13 giờ chiều, địch lại triển khai đợt tấn công mới. Cuộc chiến đấu trở nên căng thẳng khi số thương vong của đơn vị tăng lên (chị Hợi bị thương, chị Hoa và chị Sao hy sinh).Trước tình hình đó, anh em bộ đội đề nghị các chị rút lui, nhưng không một chị nào rời khỏi trận địa, kiên quyết bám trụ, đánh địch đến cùng. Đến 16 giờ chiều, toàn bộ tiểu đội nữ du kích cùng với bộ đội mới rút khỏi vị trí quy định. Sau 2 ngày chống địch phản kích, tiểu đội nữ du kích Vân Thê cùng với bộ đội chủ lực đã tiêu diệt 120 tên đich, bắn cháy 4 xe tăng, phá hỏng nặng 1 chiếc khác. Hình ảnh 11 cô gái sông Hương là biểu tượng của quân dân Thừa Thiên Huế trong cuộc “tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường” mùa Xuân năm 1968 quê hương mình”. (tr.290-291)

Bình luận: Sự kiện “Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968” chấn động địa cầu, được trình bày trong Địa chí lịch sử TTH với 2522 từ. Riêng về 11 cô gái Sông Hương, tác giả dành 462 từ, hơn 1/6 số của bài nghiên cứu. Như vậy chiến công và ý nghĩa chính trị của 11 cô gái sông Hương trong chiến dịch Huế Xuân 1968 là “tuyệt đỉnh” của chiến thắng vang dội nầy. Như thế nghiên cứu về chiến dịch Huế Xuân 68 trước tiên phải nghiên cứu về cuộc chiến đấu và chiến thắng của 11 cô gái sông Hương.

- Về sử liệu thành văn và điền dã không thấy tác giả chú thích cho nên không thể thẩm tra được. Trong phương pháp sử, tác già không nêu nguồn tư liệu thì thông tin lịch sử trong nội dung bài nghiên cứu là tri thức của tác giả; tác giả phải chịu trách nhiệm về những thông tin minh công bố;

Về sự khó tin của nội dung. Trong chiến tranh trước hết phải xét đến lực lượng hai bên.

Lực lượng bên ta theo Địa chí lịch sử TTH viết cho biết: “Đêm 11 rạng 12-2-1968, tiểu đội được phân công đánh địch ở chợ Cống có sự phối hợp của 1 tổ thuộc đơn vị K10” (tr.290)- chỉ có một tiểu đội con gái và 1 tổ bộ đội chính qui (K10).

Lực lượng bên địch theo tác giả viết (tr.290) “gồm 1 trung đòan quân Mỹ và lính Nam Triều Tiên có xe bọc thép yểm trợ mở cuộc phản kích”

 Kết quả chiến đấu, tác giả viết:“Sau 2 ngày chống địch phản kích, tiểu đội nữ du kích Vân Thê cùng với bộ đội chủ lực đã tiêu diệt 120 tên đich, bắn cháy 4 xe tăng, phá hỏng nặng 1 chiếc khác” (tr.291).

Nhận xét: 11 cô gái sông Hương (hay đội nữ du kích Vân Thê) được trang bị súng cầm tay với một cơ số đạn bình thường của một bộ binh; một tổ bộ đội K10 là 3 người được trang bị 1 chống tăng với vài ba quả đạn là cùng, giả như 1 trung đòan quân Mỹ và lính Nam Triều Tiên đều bị trói hết, các xe bọc thép đều chết máy, súng đại bác trên xe bọc thép hết đạn thì 11 cô gái sông Hương và tổ bộ đội đó có đủ cơ số đạn để “tiêu diệt 120 tên đich, bắn cháy 4 xe tăng, phá hỏng nặng 1 chiếc khác” được không ? Nếu được thì đó là một chuyện thần kỳ nên phổ biến rộng rãi để các nhà quân sự của thế giới đến nghiên cứu học tập, nếu thấy khôi hài thì không nên để lại trong một cuốn sử  cần sự nghiêm túc tối đa của một địa phương có hai di sản thế giới. 

 - Về sự thực: Tôi là người cùng quê với 11 cô gái sông Hương (xã Thiên Thủy gồm hai làng Dã Lê và Vân Thê), tôi đã được Thành ủy Huế cử đi gặp các cô lấy tư liệu và viết bài về 11 cô gái sông Hương ngay từ đầu năm 1969 và tôi cũng đã viết về cuộc chiến đấu của 11 cô gái sông Hương với nhan đề Cô Gái Vùng Ven do Nxb Phụ nữ in từ năm 1981. Chuyện không đến nỗi khôi hài như tác giả đã viết vừa trích và bình luận ở trên. Xin tác giả lưu ý viết sử khác với viết các bài báo động viên chính trị kịp thời.

Địa chí lịch sử TTH viết:“Trong 26 ngày đêm chiến đấu, làm chủ thành phố, quân và dân Thừa Thiên Huế đã làm tan rã hệ thống kìm kẹp của địch từ tỉnh đến các cơ sở. Lực lượng cách mạng đã giải phóng thêm 209.800 dân, 20 xã, 271 thôn, thành lập chính quyền cách mạng tỉnh, thành phố và các phường xã, thành lập “Liên minh Dân tộc dân chủ và hòa bình”, mở rộng khối đại đòan kết tòan dân chống Mỹ, cứu nước”.(tr.291)

Ý kiến: Để phục vụ cho chiến dịch Huế Xuân 68, Trung ương đã lãnh đạo Mặt trận Giải phóng Thành phố Huế thành lập Mặt trận các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Thành phố Huế  do Giáo sư Lê Văn Hảo làm Chủ tịch, Hòa thượng Thích Đôn Hậu và bà Nguyễn Đình Chi làm Phó Chủ tịch; thầy giáo Hòang Phủ Ngọc Tường làm Tổng thư ký, và nhiều Ủy viên khác. Một số người đã có mặt ở chiến khu trước giờ nổ súng như Lê Văn Hảo, Hòang Phủi Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, một số người ra chiến khu sau khi lực lượng kháng chiến đã làm chủ thành phố như Hòa thượng Đôn Hậu, bà Nguyễn Đình Chi, cụ Nguyễn Đóa, ông Tôn Thất Dương Tiềm, ông Nguyễn Thúc Tuân .v.v. Trên danh nghĩa Mặt trận Liên minh lãnh đạo cuộc tấn công làm chủ thành phố Huế 26 ngày đếm chứ không phải Mặt trận Liên minh ra đời trong thời gian 26 ngày đêm giải phóng thành phố Huế.

Địa chí lịch sử TTH viết:“Thắng lợi to lớn của lực lượng vũ trang và nhân dân Thừa Thiên Huế mùa Xuân 1968 đã góp phần tạo nên một cục diện mới, một bước ngoặc quan trọng của cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Trung ương và Khu ủy giao, cùng cả nước làm thất bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, buộc chúng phải xuống thang và thay đổi chiến lược chiến tranh”.(tr.292)

Góp ý: Phải chăng nên trích dẫn một vài câu đánh giá thắng lợi của thế giới (đặc biệt là của Mỹ) đối với Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 thì có sức thuyết phục tốt hơn.

*

*     *

Tôi đã đọc hết tập bản thảo Địa chí lịch sử TTH, nhưng chỉ dám tham gia ý kiến hạn hẹp trong 4 nội dung, và trong mỗi nội dung cũng chỉ đề cập đến một cách tiêu biểu chứ chưa nói hết. Những sai sót góp ý của tôi trong 4 nội dung trên, có lẽ các nội dung khác cũng mắc phải không nhiều thì ít. Nhưng như tôi đã nói ở trên, tôi chưa có điều kiện thời gian để tra cứu và tham gia ý kiến tiếp. Nếu tập bản thảo nầy không được sửa chữa lại một cách khoa học thì khó được bạn đọc hoan nghinh.

Thực tình mà nói: Lịch sử đấu tranh dựng nước và cứu nước của nhân dân tỉnh TTH rất anh hùng, rất vẻ vang, nhưng cuốn sử viết về nó thì chưa ngang tầm. Các tác giả cũng đã nổ lực hết mình nhưng chỉ đến được như thế thôi. Và, theo tôi không một cá nhân nhà nghiên cứu nào ở Huế ( và Trung ương) hiện nay có thể “cứu” được công trình nầy. Nên chăng tổ chức một hay nhiều cuộc tọa đàm hay hội thảo để tranh thủ trí tuệ của nhiều nhà nghiên cứu nữa, kêu gọi lòng hảo tâm của các nhà nghiên cứu đóng góp thêm tư liệu để giúp cho những người chịu trách nhiệm biên sọan có thêm tri thức để hòan thành công trình để đời nầy.

Vì nhiệt tình với quê hương, tôi thấy có trách nhiệm phải đóng góp ý kiến với Địa chí lịch sử TTH. Tuy nhiên do trình độ không chuyên và tham gia ý kiến một cách vội vã nên tôi không tránh được sự thô thiển cá nhân. Rất mong được trao đổi để học hỏi thêm.  Nếu vô tình ý kiến đóng góp của tôi “làm rách việc” của nhóm biên sọan thì tôi xin chịu tội và rất vui vẻ nhờ quí vị hãy ném nhẹ 15 trang giấy nầy vào sọt rác là yên chuyện. Thành thật cám ơn.                                

Nguyễn Đắc Xuân
Đập Đá, 5/5/2004

Mở đầu : Nguyễn Văn Hoa

           Chương một : Lê Đình Phúc (mục I ), Nguyễn Xuân Hoa (mục II)

           Chương hai : Trần Đại Vinh

           Chương ba :   Bùi Thị Tân

           Chương bốn : Phan Thuận An (mục   ), Lê Văn Thuyên (mục   )

           Chương năm : Phạm Hồng Việt (mục  ),Nguyễn Quang Trung Tiến (mục   )

           Chương sáu : Trần Viết Ngạc (mục I), Nguyễn Thị Đảm (mục II)

                                      Đặng Văn Hồ (mục III)

           Chương bảy : Đặng Văn Hồ (mục I), Nguyễn Văn Hoa (mục II, III, IV,V)

           Chương tám : Lê Cung (mục I, II), Lê Văn Anh (mục III, IV)

                                     Võ Huy Hùng (mục V)

           Tổng luận : Phan Ngọc Liên

           Phụ lục : Nguyễn Văn Hoa.


(*) Nguyễn Đắc Xuân- Công chúa Ngọc hân sáng tác Ai Tư Vãn ở đâu? Đi Tìm Lăng Mộ Vua Quang Trung, Viện Sử học Việt nam, HN.1992.  tr. 129

 

 
 
Các bài Huế xưa đến nay khác