Hồi ký "Năm tháng dâng người" của ông Lê Công Cơ cần phải viết lại với một tâm thế khác hoặc....
Hồi ký “Năm Tháng Dâng Người” (NTDN) của Lê Công Cơ, do Nxb Phụ Nữ ấn hành, dày gần 500 trang khổ 14,5x20,5 với số lượng in 1200 bản, phát hành vào Quý II/2006. Sách in đẹp, có nhiều hình ảnh liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của tác giả.

Là hồi ký của một cán bộ cách mạng, hoạt động trong nhiều lĩnh vực, trải qua nhiều địa phương, nhiều vùng, kéo dài trong hàng chục năm, trong lúc đó tôi chỉ là một sinh viên Phật tử hoạt động ở một vài đô thị rồi thoát ly cũng chỉ ở trong vùng chiến khu Trị Thiên, thời gian tiếp xúc và gần tác giả không nhiều, lại chưa từng giữ một trách nhiệm lãnh đạo nhỏ nhoi nào cho nên tôi không thể hiểu và đánh giá hết những sự việc nêu trong NTDN được. Tôi chỉ đề cập về những gì có liên quan đến tôi và những đồng chí đồng sự mà tôi có điều kiện hiểu rõ hơn tác giả (những sự kiện mang tính lịch sử khác sẽ không được đề cập trong bài viết nầy). Mong tác giả và bạn đọc thông cảm. 

 

Cuộc biểu tình của SVHS và nhân dân TP Huế - ảnh chụp ngày 18/8/1971

1. Dù là văn chương hồi ký nhưng cũng phải hợp lý

Vào một ngày sau sự kiện Phật tử bị đàn áp dữ dội ở Đài Phát thanh Huế (8.5.1963), tác giả Lê Công Cơ (LCC) với tư cách đứng đầu một cơ sở cách mạng ở Huế đã vận động sinh viên Huế bãi khoá để ủng hộ Phật giáo. Tác giả đã tường thuật lại sự việc ấy như sau:  

“Trời chưa sáng, tôi đạp xe đến thẳng trụ sở Viện đại học Huế, số 3 Lê Lợi. Sáng hôm đó thi môn Vật lý đại cương của giáo sư Nguyễn Chung Tú - giáo sư từ Đại học Sài Gòn ra dạy cho Huế. Tôi sè sẽ vào nhà kho lấy một tấm bảng đen học sinh ra viết chữ to bằng phấn trắng:

“Sinh viên bãi khoá không thi môn Vật lý đại cương. Đề nghị ủng hộ Phật giáo Huế. Bãi khoá các trường ở Huế!”
Tôi dựng cái bảng đen này ngay trước cổng vào Viện và qua đứng bên kia đường nhìn sang, chờ sinh viên vào đến là cản không cho vào thi.
Đúng 7 giờ 30, một tốp khoảng 5 sinh viên đạp xe đến. Họ dừng lại và hét to:
- Bỏ thi tụi bay ơi, bãi khoá, bãi khoá, hay lắm. Học và thi làm chi trong lúc ni. Về thôi!
Một số sinh viên khác đến đồng tình và họ cùng kéo nhau đi hô to:
- Bãi khoá, bãi khoá!

Nào ngờ, chỉ một tấm bảng đơn giản với hàng chữ kêu gọi mà đã tạo thành một khối nổ dây chuyền. Trường Quốc Học, rồi Đồng Khánh, Hàm Nghi, Nguyễn Tri Phương...(NTDN, tr.153)

Tôi không rõ ông LCC đã học và thi những chứng chỉ khoa học toán vật lý nào của Đại học Huế, nhưng đoạn trích hồi ký NTDN trên hoàn toàn sai thực tế và chuyện ông phát động bãi khoá cũng hoàn toàn là chuyện hư cấu hết sức tầm thường, sai lịch sử. 

Hồi năm 1963, số 3 Lê Lợi là Toà Viện trưởng Viện Đại học Huế - một nơi được bảo vệ chặt chẽ, nhất là sau sự kiện Phật tử bị sát hại ở Đài phát thanh tối hôm 8.5.1963, không dễ gì để “Trời chưa sáng", ông đã "có thể đạp xe đến thẳng trụ sở Viện đại học Huế, số 3 Lê Lợi" được. Hơn nữa Toà Viện trưởng là nơi làm việc hành chính, hội họp của giáo sư và nhân viên Văn phòng của toàn Viện, không có chuyện tổ chức thi cử gì ở đây. Một cuộc thi Chứng chỉ như chứng chỉ Vật lý đại cương như LCC viết có đông lắm cũng chỉ năm ba chục thí sinh mà thôi. Ở Đại học Khoa học (Nhà hàng khách sạn Morin cũ) thiếu gì phòng ốc có thể tổ chức thi được can chi phải lên đến Toà Viện trưởng. Dù là chuyện trong hồi ký, nhưng cũng phải hợp lý. Nếu đã là sinh viên Huế thì không ai viết ngây ngô đến như thế. Nhưng đó chỉ là một tiểu tiết. Chuyện tôi muốn góp với tác giả là chuyện lớn và quan trọng sau đây:

Sự kiện sinh viên Huế bãi khoá chống chế độ Ngô Đình Diệm năm 1963 là một cái mốc lịch sử bắt đầu Phong trào Sinh viên miền Nam đấu tranh chống các chế độ miền Nam thân Mỹ từ 1963 đến 1975. Cái mốc lịch sử đó đã được Hoàng Phủ Ngọc Phan (bút danh Hoàng Đan Phượng) viết và đăng liên tiếp trên 3 số tập san Nhận Thức ra đời từ Tháng 2/1964 đến 4/1964. Loạt bài đó có tựa đề "Giáo sư, sinh viên, học sinh Huế, trước và sau cách mạng 1/11/1963". Hơn 40 năm qua, nhất là sau năm 1975, hàng chục sách và bài viết về cuộc bãi khoá đầu tiên của Sinh viên Huế năm 1963. Cuốn Những sự kiện lịch sử trong Phong trào đấu tranh đô thị của Thanh niên, sinh viên, học sinh Huế (1954-1975) do Đoàn TNCS HCM TP Huế xuất bản năm 1989 (tr. 27), tác giả LCC từng làm Bí thư đứng đầu tổ chức nầy, không thể không biết. Mới đây, sách "Phong trào đô thị Huế trong kháng chiến chống Mỹ 1954-1975" (Nxb Thuận Hoá, 2001, tr.65) của PGS TS Lê Cung - Phó khoa sử Đại học Sư phạm Huế - LCC cũng không thể không biết. Và, bản thân tôi cũng đã viết một loạt bài "Bất ngờ Đoàn sinh viên Phật tử Huế 1963" đăng trên Nguyệt san Giác Ngộ nhân kỷ niệm 40 năm cuộc vận động của Phật giáo chống chính quyền Ngô Đình Diệm qua các số Số 85 (4-2003), tr.61- 66, Số 86, (5-2003), tr. 60-75, Số 87 (6 -2003), tr.78-83, cũng đã nói rõ cuộc bãi khoá đầu tiên của Sinh viên Đại học Huế tháng 8 năm 1963. Những sách báo vừa dẫn đã ghi chép, tường thuật khá chi tiết các sự kiện tranh đấu từ đêm Phật đản 8.5.1963 đến ngày 17.8.1963 - ngày toàn thể sinh viên Đại học Huế tuyên bố bãi khoá chống chế độ Ngô Đình Diệm, chúng tôi đếm đúng 102 ngày. Trong hơn 100 ngày đó, chỉ có sinh viên, học sinh, giáo chức Phật tử tham gia tranh đấu mà thôi. Ngoài ra các giáo sư khác vẫn đi dạy, đi coi thi, sinh viên học sinh khác vẫn đi học, đi thi như thường. Cho mãi đến ngày 17.8.1963 (ngày lịch sử), sau các sự kiện Sa-di Thích Thanh Tuệ tự thiêu ở chùa Phước Duyên, Thượng toạ Thích Tiêu Diêu tự thiêu ở chùa Từ Đàm chống chính quyền Ngô Đình Diệm, Linh muc Viện trưởng Cao Văn Luận bị Chính phủ Diệm cách chức, và nhiều sinh viên học sinh Phật tử khác xin noi gương Thanh Tuệ, Tiêu Diêu tự thiêu nữa đã làm cho không khí tranh đấu ở Huế hết sức bức xúc. Không thể vô trách nhiệm trước tình hình đó nên toàn thể Giáo sư Đại học Huế vào cuộc, ra Tuyên ngôn "Xin từ chức các chức vụ mà chúng tôi đảm nhận tại viện Đại học Huế kể từ ngày hôm nay 17.8.1963" để đòi chính phủ Diệm phải giải quyết 5 nguyện vọng của Phật giáo, phục hồi chức Viện trưởng cho LM Cao Văn Luận…Từ đó sinh viên Huế mới vào cuộc với các thầy của mình. Lần đầu tiên có một đoàn biểu tình nhân danh Sinh viên Đại học Huế. Đoàn biểu tình tuần hành từ Giảng đường C (tức Morin thuộc Đại học Khoa học Huế) lên tư thất L.m. Viện trưởng (nay là nhà số 5 Hà Nội - trụ sở của UBMT TQVN TP Huế). Không gặp được L.m. Viện trưởng chúng tôi đứng ngay trên thềm nhà, nhân danh toàn thể sinh viên Đại học Huế thảo một Kiến nghị gởi cho Tổng thống Diệm. Bản Kiến nghị ấy sau nầy đăng trong t/c Nhận Thức (số 3/1964) có nội dung như sau:

"Chúng tôi, toàn thể Sinh viên thuộc các Phân khoa Viện Đại  học Huế, họp tại trường Đại học Khoa học lúc 14 giờ ngày 17.8.1963. 
1. Xét rằng sự tự trị của nền Đại học là điều kiện cần thiết để đào luyện những lớp trí thức chân chính phục vụ cho nền văn hoá dân tộc;  
2. Xét rằng sự thay đổi đột ngột chức vị Viện trưởng đã gây một sự xúc động lớn lao trong toàn thể giáo sư và sinh viên thuộc Viện Đại học Huế;
3. Xét rằng sự xúc động lớn lao nầy sẽ đưa đến nhiều hậu quả tai hại cho nền giáo dục quốc gia;
4. Xét rằng Linh mục Viện Trưởng là người đã sáng lập ra Viện Đại học Huế và sự có mặt của Linh mục Viện trưởng cũng như quí vị giáo sư là sự thiết yếu cho sự sống còn của Viện Đại học Huế.
5. Xét rằng sự tự do tư tưởng và công bằng xã hội là lý tưởng của nền giáo dục nhân bản. 
Chúng tôi đại diện toàn thể sinh viên thuộc các phân khoa Đại học Huế ký tên dưới đây đồng kiến nghị và quyết định:
1)Yêu cầu Tổng thống thâu hồi lệnh bãi chức Viện trưởng của Linh mục Cao Văn Luận;
2)Yêu cầu Tổng thống và ông Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục tìm mọi phương sách để quí vị Khoa trưởng và Giáo sư đã từ chức để phản đối lệnh bãi chức trên đảm nhận lại chức vụ của mình;
3)Quyết định bãi khoá từ ngày hôm nay (NĐX nhấn mạnh) cho đến khi nào những nguyện vọng trên được thoả mãn.

Đồng ký tên.
Toàn thể sinh viên các Phân khoa Đại học Huế: Y khoa, Sư phạm, Văn khoa, Khoa học, Luật khoa, Viện Hán học Huế.
Y khoa: Lê Quang Tái, Nguyễn Quốc Chưởng;
Sư phạm: Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Văn Thọ;
Văn khoa: Trần Văn Tú, Vĩnh Kha;
Khoa học: Hồ Đức Nhị, Nguyễn Trác Diễm;  
Luật khoa: Nguyễn Đình Hiển, Huỳnh Ngọc Hội;
Viện Hán học: Huỳnh Ngọc Ghênh, Lý Văn Nghiên." 

Cuộc bãi khoá đầu tiên của Sinh viên Đại học Huế diễn ra từ ngày 17.8.1963. Chỉ sau đó ba ngày, đến khuya ngày 20.8.1963, Ngô Đình Nhu thực hiện "Kế hoạch nước lũ" bắt toàn bộ những người đấu tranh trên toàn cõi miền Nam vào tù, dĩ nhiên, tất cả những người được nêu tên trong các Tuyên ngôn, tuyên cáo, kiến nghị đã gởi cho chính quyền Diệm đều bị trọng tội. 

Cuộc bãi khoá năm 1963 của Sinh viên Đại học Huế chỉ xảy ra sau hơn 100 ngày Phật giáo phát động cuộc đấu tranh, và chỉ giữ được có 4 ngày (17.8. đến 21.8) rồi  bị đàn áp khốc liệt. Cuộc bãi khoá đó khó khăn, dữ dội đến như vậy mà tác giả LCC tự vỗ ngực cho rằng ngay sau vài hôm xảy ra vụ đàn áp Phật tử ở Đài Phát thanh ông ta đã bày đặt ra chuyện bãi khoá và trình bày lại một cách đơn giản như đoạn trích trên thì quả thật là một sự xuyên tạc lịch sử không thể chấp nhận được. 

Có lẽ tác giả chỉ được nghe loáng thoáng ai đó kể lại chuyện đấu tranh chống Diệm năm 1963 nên ông đã hư cấu những chuyện như đùa: Xin trích một chuyện nhỏ. 
Sau khi cuộc đấu tranh của Phật giáo nổ ra, theo LCC: 
“Để đáp lại, Giám mục Ngô Đình Thục, anh ruột Ngô đình Diệm, từ Sài Gòn bay ra Huế, tổ chức một cuộc gặp gỡ với giáo chức Viện Đại học Huế mang chủ để:“Những người anh em ngồi lại với nhau” tại giảng đường Karaté - Đại học Sư Phạm Huế".(NTDN, tr.158)
Chỉ một đoạn trích trên, tác giả đã bộc lộ sự thiếu hiểu biết của mình qua một số chi tiết sau: 

- Từ ngày 12.4.1961, ông Ngô Đình Thục anh ruột Tổng thống Ngô Đình Diệm từ Vĩnh Long ra Huế nhận chức Tổng Giáo phận Huế. Từ đó ông Thục sống tại Toà Tổng giám mục trước nhà thờ Phủ Cam. Chính vì ông ở Huế nên như nhiều tài liệu đã viết ông đã thúc đẩy ông Diệm ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong ngày Phật Đản 1963 và cái lệnh ấy là nguyên nhân xảy ra cuộc đấu tranh của Phật giáo. Cho nên không có chuyện "Giám mục Ngô Đình Thục, anh ruột Ngô đình Diệm, từ Sài Gòn bay ra Huế, tổ chức một cuộc gặp gỡ". Lúc đó (1963) ông Thục ở Huế và trực tiếp tác yêu tác quái ở Huế. 

- Địa điểm ông Thục tổ chức nói chuyện tại "giảng đường Karaté - Đại học Sư Phạm Huế"? Có thật như thế không? 
Nếu đã là sinh viên Huế từ năm 1963 thì hẳn đã biết: Đại học Huế được thành lập từ năm 1957. Ba khoa Văn khoa, Sư phạm, Khoa học đều đặt tại Nhà hàng khách sạn Morin do ông Ngô Đình Cẩn chiếm đoạt của gia đình Nguyễn Văn Yến và cho "nhà nước Việt Nam Cộng Hoà" thuê lại làm Đại học Huế. Tầng trệt Nhà hàng khách sạn Morin dành cho Khoa học, tầng lầu dọc đường Lê Lợi dành cho Văn khoa và tầng lầu dọc đưòng Trương Định dành cho Sư phạm. Cho mãi đến đầu những năm sáu mươi, nhờ sự giúp đỡ của Đại học Ohio (Hoa Kỳ), Đại học Huế mới bắt đầu xây dựng Đại học Sư phạm trên nền của Toà khâm sứ cũ. Đến đầu niên khoá 1964-1965 những cơ sở chính của Đại học Sư phạm mới xây xong và sinh viên lớp tôi (tức lớp của Trần Quang Long) là một trong những lớp sinh viên Đại học sư phạm đầu tiên được chuyển từ Morin qua học ở cơ sở mới nầy. Và, phải nhiều năm sau mới xây dựng Giảng đường Karaté. Như vậy. chuyện LCC viết ông Ngô Đình Thục tổ chức nói chuyện tại "giảng đường Karaté - Đại học Sư Phạm Huế từ giữa năm 1963 là chuyện tưởng tượng.

Và do sự tưởng tượng dễ dàng như thế nên LCC đã viết tiếp mẩu chuyện sau:   
"Nhiều người đến dự vì tò mò thử xem Ngô Đình Thục nói gì với giáo chức Huế. Tôi nhớ mãi một chi tiết tại cuộc gặp này. Một nữ sinh viên Huế đứng dậy xin chất vấn Ngô Đình Thục:
- Thưa đức Cha, ở Huế nhiều người nói, đức Cha muốn trở thành Hồng y giáo chủ nên đàn áp Phật giáo phải không?
Ngô Đình Thục trong bộ đồ đen Giám mục lùng thùng, mặt đỏ lên vì tức, đi thẳng một mạch đến chỗ cô nữ sinh viên nọ, lấy tay chỉ vào cô và nói to:
- Cái áo đức Hồng y đỏ như cái áo o đang mặc, o biết không, toàn là bị xuyên tạc, mắc mưu cộng sản!
Cả hội trường lặng im, cô nữ sinh viên nọ đứng dậy bỏ ra ngoài miệng lẩm bẩm:
- Tu chi lạ rứa ?" (NTDN, tr.158)

Cho đến năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm có một quyền uy rất lớn ở miền Nam. Tổng giám mục Ngô Đình Thục là bề trên của Tổng thống về đạo, là "quyền huynh thế phụ" của Tổng thống và các cố vấn Nhu, Cẩn…nữa thế thì cái uy của ông Thục to lớn biết đến chừng nào ! Ông Thục đi đâu thì công an mật vụ bao bọc vòng trong vòng ngoài, không ai có thể đến gần ông được. Ngay trong đêm Phật Đản 1963, ông đang đãi tiệc ở nhà ông, nghe Đặng Phong (anh của Đặng Sĩ) báo cáo Phật tử đang bao vây Đài phát thanh Huế, ông ngoắt tay bảo "dẹp" một tiếng, cuộc đàn áp đã diễn ra sau đó rất khốc liệt. Và, từ sau cái đêm thể hiện uy quyền của gia đình họ Ngô ở đài Phát thanh Huế ấy, ai hó hé ý kiến bất mãn chế độ là bị còng tay ngay. Thế mà LCC "còn nhớ mãi" được câu chuyện đối đáp giữa một "nữ sinh Huế" nào đó với Tổng Giám mục Thục là một chuyện quá lạ. Lạ là vì: 

a) Buổi nói chuyện của Tổng Giám mục Thục dành riêng cho các giáo sư rất nghiêm ngặt, vì sao nhiều người tò mò (trong đó có LCC và môt cô nữ sinh viên nào đó) có thể "mò vào" dự nghe được ? 
b) Có một nữ sinh gan dạ dám chất vấn Tổng Giám mục như thế thuộc loại anh hùng số 1 thời bấy giờ, thế mà mãi đến nay sau hơn bốn mươi ba năm chúng tôi mới biết được qua hồi ký của LCC ! 
c) Không rõ công an mật vụ của Tổng Giám mục lúc đó làm gì mà để cho cô sinh viên « đối thoại » với Tổng Giám mục Thục một cách trịch thượng đến như thế ? 
d) Tổng Giám mục Thục là một người rất độc đoán, cứng rắn, nóng nảy vì sao hôm ấy lại hiền đến vậy ? 
e) Sau đó cô nữ sinh viên ấy có bị trù dập, bắt bớ gì không? 
g) Với tư cách "lãnh đạo" sinh viên giải phóng ở Huế, LCC có biết cô nữ sinh đó tên gì, học lớp nào, khoa nào và sau đó đi đâu không? Sau 1975 ông có tìm người nữ sinh viên anh hùng đó không ? Ông đã viết biểu dương cô ấy ở đâu chưa hay chỉ mới xuất hiện lần đầu trong NTDN ? Nếu chưa thì cũng là một việc lạ !

2. Xin trả lại những gì không phải của tôi

Trong chương 3 Phần 3 (tr.291) với tiêu đề “Bão táp ly khai 1966”, tác giả cho biết: Tại Huế, Tổng hội Sinh viên tổ chức một cuộc hội thảo chống Mỹ tại giảng đường Karaté, Đại học Sư phạm. Sau lời phát biểu  chống Cộng của “Lê Đình Cai, sinh viên Luật khoa, Bí thư Đại Việt tại Huế”, Anh Phan (có lẽ ám chỉ Hoàng Phủ Ngọc Phan) lên diễn đàn chống lại, và được “Cả giảng đường vỗ tay đồng tình” (NTDN, tr.292). Tiếp đến tác giả cho tôi xuất hiện: “Anh Nguyễn Đắc Xuân  bước ra nói tiếp lời anh Phan:

- Chúng ta ai cũng học lịch sử Việt Nam thuộc làu làu, coi thử có dòng nào ghi: Nguyễn Huệ kéo quân ra đánh quân Thanh, đẩy quân xâm lược ra khỏi bờ cõi là Nguyễn Huệ xâm lược miền Bắc không?
Cả hội trường lại vang lên những tràng vỗ tay không dứt để đồng tình”.(NTDN, tr.292,293). 
Và, tác giả viết tiếp:

“Trước thời cơ ngàn năm có một, thông qua sự chỉ đạo của Thành uỷ, anh Nguyễn Đắc Xuân đã tổ chức một cuộc hội thảo tại giảng đường Morin, kêu gọi thành lập “Đoàn sinh viên quyết tử”được hàng trăm sinh viên các khoa đăng ký [....] Đoàn sinh viên quyết tử Huế ra đời với quân số trên 500, được chia làm 4 đại đội và do anh Xuân làm tiểu đoàn trưởng. Sinh viên quyết tử được trang bị các vũ khí tự tạo và một số súng, lựu đạn do binh lính tại Huế cung cấp. Đoàn Sinh viên quyết tử, với những chàng thư sinh ngày nào, giờ mặc những bộ đồ ka-ki, đội mũ tai bèo diễu hành qua các phố “ thề bảo vệ Huế đến cùng” đã tiếp thêm sức mạnh cho người Huế trong cơn dầu sôi, lửa bỏng”.(NTDN, tr.293.294) .

Cám ơn những lời biểu dương của trí nhớ tác giả NTDN. Nhưng rất tiếc là nội dung phát biểu cũng như những thông tin khác trong hai đoạn trích trên đều rất xa lạ đối với tôi. Về lịch sử ra đời của Đoàn SVQT Huế năm 1966, tôi cũng đã viết và đăng trên t/c Huế Xưa & Nay và đặc biệt trên t/c Lịch sử Quân sự Việt Nam, số 4(136), tháng7&8 - 2002, và số 5(137) tháng 9&10 - 2002) có thể khẳng định không có những chi tiết trên. Đặc biệt chi tiết Sinh viên Quyết tử “đội mũ tai bèo diễu hành qua các phố” hoàn toàn sai sự thật. Nếu lúc đó chúng tôi “đội mũ tai bèo diễu hành qua các phố” thì lập tức chúng tôi bị chụp mũ “Việt Cộng” và bị tóm cổ ngay lập tức. Các tấm ảnh SVQT đội mũ lưỡi trai (theo kiểu Mỹ) đi diễn hành qua các đường phố Huế  hay đi biểu tình ở Đà Nẵng đăng trên hai số tạp chí vừa nêu, có thể khẳng định rằng tác giả LCC đã hư cấu “chuyện đội mũ tai bèo”. 

Trước đoạn trích trên vài ba trang, tác giả hồi ký đã viết:
“Vợ chồng Thành đang ở nhờ căn hộ của Tiến sĩ Lê Văn Hảo, tại cư xá giáo sư số 2 Lê Lợi, do Viện Đại học Huế tạm phân. Vợ chồng Thành tiếp tôi và giao cho một phòng nhỏ phía sau để ở. Có chỗ ở tạm tôi quá mừng. Phan thuyết phục Tiến sĩ Lê Văn Hảo đưa vợ đi nghỉ ở Đà Lạt và giao lại cho tôi hai phòng khá lớn ở ngay phía trước”. (NTDN, tr.289,290)

Cuối năm 1965 đầu năm 1966, tôi làm luận văn tốt nghiệp ĐH Sư phạm và được TS Lê Văn Hảo cho ở ngay trong nhà tại 2 Lê Lợi với TS để đọc sách và tài liệu văn sử xuất bản ở miền Bắc do TS mua được ở Paris vừa đem về Huế. Tôi ở đó với TS Hảo từ cuối năm 1965 cho đến ngày tôi thoát ly (đầu tháng 7/1966). Đầu năm 1966, nhóm bạn tranh đấu ở Huế gồm có các anh HP Ngọc Tường, HP Ngọc Phan, Lê Thanh Xuân, Lê Tử Thành, và tôi (lấy tên là Nguyễn Khắc Túy) tranh thủ TS Hảo cho làm làm tờ tập san Việt Nam Việt Nam ngay trong gian hộ tại 2 Lê Lợi của TS Hảo. (Đầu đề Việt Nam Việt nam là tên một bài hát nổi tiếng trong trường ca Mẹ Việt Nam của nhạc sĩ Phạm Duy). Lúc nầy tôi có giới thiệu TS Hảo với ca sĩ H.T. - một cô bạn người Huế đang thường trú ở Sài Gòn. Hai người mới gặp nhau một vài lần cũng ở Sài Gòn. Trong thời gian làm tờ Việt Nam Việt Nam thì nổ ra cuộc tranh đấu mùa hè 1966 (bắt đầu từ 11.3.1966), tôi tham gia tranh đấu nên hay ở lại các chùa Diệu Đế, chùa Từ Đàm hay tại phòng trọ cũ của tôi ở Đập Đá nên đôi nhân tình Lê Tử Thành/ Th. được TS Hảo cho ở lại trong nhà 2 Lê Lợi để tham gia viết bài, đánh máy và in ronéo tờ VNVN. Do đó tôi có thể khẳng định:

- Lúc ấy (tháng 3 đến 6/1966) Lê Tử Thành (hiện nay đang ở Quận 8/Tp HCM) với chị Th. chỉ mới là bồ của nhau chứ chưa phải là vợ chồng; 
- TS Lê Văn Hảo chưa có vợ, mới quen ca sĩ H.T. ở Sài Gòn, chưa hề gặp nhau ở 2 Lê Lợi, cho nên tác giả đã hư cấu chuyện: “Phan thuyết phục Tiến sĩ Lê Văn Hảo đưa vợ đi nghỉ ở Đà Lạt và giao lại cho tôi hai phòng khá lớn ở ngay phía trước”. Phan đã thuyết phục bà vợ nào của Lê Văn Hảo đi nghỉ ở Đà Lạt khi người Lê Văn Hảo yêu đang ở Sài Gòn ? 

Hai chi tiết vừa dẫn rất nhỏ so với những sự việc to lớn được nêu trong hồi ký NTDN. Tất cả những người “trong cuộc” được nêu tên trên đều còn sống, đầu óc vẫn minh mẫn, hiện đang ở Huế (NĐX, HPNT), ở TP HCM (HPNP, LTX, LTT), ở Paris (LVH) và Boston (ca sĩ H.T.). Những chuyện rất thân thiết, rất cụ thể, ngày nay có thể kiểm chứng được ngay thế mà tác giả vẫn dám “nhầm”  như thế. Thử hỏi những chuyện to lớn, không địa chỉ, không thời gian, người nêu trong cuộc không rõ hay nói đã chết rồi không thể kiểm chứng được thì ai dám tin là tác giả nhớ và viết đúng sự thực ? 

Như nhiều sách báo đã viết, cuối tháng 5 đầu tháng 6/1966 Phong trào đấu tranh ở miền Trung, đặc biệt là ở Huế và Đà Nẵng đã bị chính phủ Sài Gòn đàn áp khốc liệt. Sau đó một số người vốn là cơ sở của Mặt trận Giải phóng họ được thoát ly ra vùng chiến khu, những người là Phật tử thuần túy thì tìm đường trốn tránh ở các vùng nông thôn chung quanh Huế. Đề cập đến sự kiện đó, hồi ký NTDN có đoạn viết:

“Sau một tuần lễ quân Thiệu - Kỳ đàn áp, Huế vẫn còn trong hỗn hoạn. Nhiều người tranh đấu cùng với một số binh lính, sỹ quan tổ chức thành các nhóm “Ly khai” tản ra các vùng quanh Huế cố thủ và chống cự lại. Địch ra lệnh truy bắt các anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân...Lập tức tôi viết thư gởi nhanh ra Thành uỷ và các anh lãnh đạo đồng ý tổ chức đưa các anh nói trên ra ngay hậu cứ. Tôi phải nhường đường dây của mình để các anh Tường, Phan, Xuân ra chiến khu.(NTDN, tr.300)

Trên đây cũng là một chuyện nhỏ. Nhưng đối với riêng tôi thì chuyện nhỏ nầy là một sự kiện - một bước ngoặt rất quan trọng trong cuộc đời hoạt động yêu nước của tôi. Vì thế để khỏi mâu thuẫn với cuộc đời đích thực của tôi và những gì tôi đã và sẽ viết về nó được đúng đắn, chân thực tôi xin nói rõ về trường hợp thoát ly của tôi sau đây: 

Thú thật trong suốt ba năm tranh đấu (1963-1966), tôi thuần túy là một sinh viên Phật tử, là đoàn phó Đoàn Sinh viên Phật tử (từ giữa năm 1964 đến giữa năm 1966), rồi lại được bầu làm Đoàn trưởng Đoàn Sinh Viên Quyết Tử (từ 5.4.1966 đến đầu tháng 7/1966) nên trong hoạt động tranh đấu tôi tiếp xúc với nhiều người, nhiều giới, trong đó chắc có người là cơ sở của MTGP mà tôi không biết và cũng không thể nhớ.  Đúng là có chuyện “Địch ra lệnh truy bắt các anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân” (NTDN, tr.300), nhưng sau nầy tôi được biết hai anh em HP Ngọc Tường - HP Ngọc Phan khi biết mình bị “lùng bắt” thì được cơ sở đưa thoát ly ngay. Ai đưa đi và đi bằng đường dây nào tôi không biết. Còn riêng tôi, sau khi bị lùng bắt thì phải cởi bỏ áo quần Sinh viên Quyết tử, khoác vào mình một bộ cà-sa. Thầy Trí Quang cho người về chùa Diệu Đế bảo tôi phải lên chùa Từ Đàm ngay, nếu không sẽ bị bắt và khó thoát được. Hai bạn sinh viên Cao Hữu Điền và Phạm Văn Rơ đạp xe đạp “hộ tống” tôi từ chùa Diệu Đế lên chùa Từ Đàm. Ở chùa Từ Đàm mấy hôm thì tỉnh trưởng Phan Văn Khoa (theo phe Thiệu Kỳ) xông vào chùa bắt tôi. Nhờ thầy Trí Quang can thiệp nên tôi thoát được. Thầy gởi tôi vô trong chùa Kim Tiên của thầy Chánh Trực. Ở chùa Kim Tiên cũng bị lộ, tôi chuyển qua ở chùa Tường Vân của Ôn Tăng thống Thích Tịnh Khiết. Ở chùa Tường Vân, thầy Thích Chơn Tế (nay là Hoà thượng trụ trì chùa Tường Vân) xuống tóc cho tôi và tôi lấy pháp hiệu là Thích Trí Minh. Nhưng rồi, có lần tôi đã phải đối mặt với quân Thiệu Kỳ khi chúng vào tìm tôi tại chùa Tường Vân. May sao các toán quân đến vây soát chùa Tường Vân là người Nùng vừa mới ở Sài Gòn ra nên không nhận diện được tôi. Nhờ thế mà tôi lại thoát được trong gan tấc. Các thầy bí mật đưa tôi ra trốn trên rầm thượng đình làng Dương Xuân, nửa đêm các thầy cho người ra đình đưa tôi xuống trốn trong nhà riêng của thầy Thích Chơn Các (sau 1975 đã xuất tu) ở một thôn hẻo lánh cách chùa Tường Vân chừng 500 m. Ban ngày tôi trốn trong phòng kín nhà thầy Chơn Các, ban đêm mới dám ra sân ngồi ngắm trời đất. Bổng một đêm đầu tháng 7/1966 có một người lạ được sự đồng ý của gia đình thầy Chơn Các đến thăm tôi. Qua câu chuyện làm quen, người ấy tỏ ra biết hết những khó khăn tôi vừa trải qua. Cuối cùng người ấy lấy ra một cây bút máy và rút trong ruột bút một lá thư cuộn tròn như điếu thuốc viết trên giấy pơ-luya trắng đưa cho tôi và nói: “Có một người bạn của anh gởi cho anh lá thư ! Anh đọc và trả lời cho bạn anh ngay” Giữa lúc đang buồn,  nghe có thư bạn, tôi mừng vô cùng. Tôi giở thư đọc thì biết thư của anh HP Ngọc Tường. Tôi không nhớ cụ thể nội dung lá thư nhưng đại ý anh Tường cho biết sau khi bị truy nả anh Tường và Phan đã thoát ly, ra chiến khu sống rất thoải mái. Anh biết hết những khó khăn của tôi trong thời gian qua, nên anh mời tôi ra chiến khu nghỉ một thời gian vài tuần lấy lại sức rồi sẽ trở lại tranh đấu tiếp. Tôi vốn có cảm tình với Mặt trận Giải phóng và có lần đã định thoát ly nhưng chưa gặp được người của cách mạng nên chưa đi. Bây giờ qua anh Tường thì tôi thấy đây là một cơ hội tốt. Tôi nhờ người đưa thư báo cho anh Tường biết tôi sẽ đi. Người đưa thư bảo tôi: “Vậy thì chuẩn bị gấp, sẽ có người đến đưa đi”. Mấy hôm sau, vào một buổi chiều, đầu tháng 7/1966, anh Ngữ ở gần nhà thầy Chơn Các đưa tôi đi. Đến khuya có hai liên lạc trên rừng về đón tôi lên. (Sau nầy tôi gặp lại và biết tên hai anh là Đông và anh Lợi. Sau năm 1975, anh Đông làm cán bộ ở Phòng Lương thực Thành phố Huế). Lúc qua bên kia sông Hương để lên làng Hải Cát tôi gặp một cán bộ cũng vừa ở Huế ra để cùng lên chiến khu ở phía sau núi Kim Phụng với tôi. Lên đến bìa rừng tôi được một cán bộ mặc bà ba lụa đen ra đón. Đi đến chiều tối thì đến căn cứ và gặp lại bạn tôi là anh HP Ngọc Tường. Ở chiến khu tôi biết được người chuyển thư của anh Tường cho tôi là ông Phan Nam - Thành ủy viên hoạt động bí mật ở Huế (sau 1975 làm Chủ tịch UBND Tp Huế); người cán bộ cùng lên Hải Cát với tôi là ông Hoàng Kim Loan - cũng là một thành ủy viên hoạt động bí mật ở Huế và người đón chúng tôi ở bìa rừng là anh Nguyễn Trung Chính-thành ủy viên, phụ trách an ninh (sau nầy anh Chính có thời làm Trưởng ban tổ chức tỉnh ủy BTT). Hiện nay ông Phan Nam và ông Nguyễn Trung Chính còn mạnh khoẻ ở Huế. 

Sở dĩ tôi phải tường thuật dài dòng như vậy để độc giả và tác giả LCC thấy rằng:
a) Chuyện chúng tôi phải đối phó với quân Thiệu Kỳ suốt thời gian từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 7/1966 là vô cùng khó khăn, ác liệt chứ không đơn giản như LCC viết là sau khi chúng tôi bị truy bắt thì  “Lập tức tôi (LCC) viết thư gởi nhanh ra Thành uỷ và các anh lãnh đạo đồng ý tổ chức đưa các anh nói trên ra ngay hậu cứ”;
b) Tôi ra chiến khu bằng đường dây của ông Phan Nam và ông Hoàng Kim Loan - các vị lãnh đạo Thành ủy Huế năm 1966. Đường dây ấy chắc chắn không phải do ông LCC "nhường". Chuyện tôi thoát ly không dính dáng gì đến ông LCC cả. 

3. Phải quan tâm đến lý lịch của người khác và sự thật lịch sử

Sau ngày chế độ Diệm sụp đổ, giữa năm 1964, anh em văn nghệ sinh viên ở Huế có lập ra "Quán Bạn" qui tụ một số sinh viên tranh đấu, có nhiều người có xu hướng cách mạng. LCC có nghe loáng thoáng sự kiện ấy nên ông viết lại trong hồi ký như sau:

“Ở Huế, “nhóm Quán bạn” nơi “tụ nghĩa”của nhà thơ Trần Quang Long bị chụp mũ là thân cộng. Vì nhiều người hay lui tới đây, đàm tiếu về mọi sự trên đời dưới dạng văn nghệ như thơ, ca, biếm hoạ, đủ loại. Mỗi người góp một bài dán lên đầy vách quán như bốn mặt tờ báo tường. Nhiều bài nói lên tinh thần yêu nước chống ngoại xâm mà thực chất là chống Mỹ xâm lược Việt Nam, trong đó có bài thơ “Hồi biến cuộc” của Trần Quang Long bị địch gán cho là “tay sai Cộng sản đích thực”. Chính quyền Thừa Thiên Huế ra lệnh đóng cửa quán và gọi Trần Quang Long lên hăm doạ đủ điều.(NTDN, tr.258)

Chữ nghĩa, sự việc LCC viết trong đoạn nầy không đúng với "Quán Bạn". Tôi dành cho các anh chị em "Quán Bạn" còn sống đến nay có ý kiến. Riêng tôi xin đính chính một chi tiết liên quan đến nhà thơ Trần Quang Long. Tên bài thơ của Trần Quang Long (Bút danh Cao Trần Vũ) là "Hồi kết cuộc" và đăng trên báo Dân do thầy giáo Trần Ngọc Anh phụ trách chứ không phải bài "“Hồi biến cuộc” dán trên tường Quán Bạn. Vì bài thơ đó mà Trần Ngọc Anh bị tướng Nguyễn Chánh Thi tát tai và Trần Quang Long bị tù gây nên một vụ án thơ mang tính lịch sử chứ không đơn giản tầm thường như LCC viết. Bài thơ có 23 câu 5 chữ mà Trần Quang Long phải ngồi tù đến 180 ngày. Trung bình mỗi câu thơ Trần Quang Long phải ngồi 8 ngày tù. "Vụ án bài thơ Hồi kết Cuộc" tôi đã viết kỹ trong bài Trần Quang Long trong một quãng đời tôi, đã đăng trên tạp chí Nhà Văn của Hội Nhà Văn VN (số 2/2006, tr. 98-110). Một sự có ý nghĩa như thế mà được LCC hồi ký lại một cách thô thiển như trò chơi làm báo tường của học sinh Trung học như thế có được không ? Do trình độ nắm bắt thực tế lịch sử kém của LCC hay do một ý đồ nào khác ?

Trong hồi ký NTDN, tác giả LCC có viết về chuyện ông được cử lên Khu Trị Thiên ngồi viết sách từ tr.351 và 352. Tôi được tham dự sự kiện đó từ đầu đến cuối và tôi xin tường thuật lại sau đây:   

Sau tết Mậu thân và suốt năm 1968 đến năm 1969 chiến trường Thừa Thiên Huế bị phản kích nên cực kỳ khó khăn không thể tả được. Giữa năm 1969, khu Trị Thiên (đóng gần đường Hồ Chí Minh) tổ chức Đại hội Văn nghệ Trị Thiên. Nhân đó Thành ủy Huế tổ chức cho một đoàn văn nghệ trí thức Huế lên Khu dự Đại hội Văn nghệ. Trong đoàn đó có HP Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Hữu Vấn, Lê Phương Thảo (tức Lê Công Cơ), Trần Thân Mỹ. Lên đến Khu ủy, đoàn Huế được bổ sung thêm anh Hải Dương (bút danh của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lúc đó). Đại hội Văn nghệ xong chúng tôi được về ở tạm tại Ban Tuyên huấn Khu ủy do nhạc sĩ Trần Hoàn phụ trách. 

Vì tình hình ở Thành ủy Huế vẫn còn khó khăn nên Thành ủy yêu cầu đoàn văn nghệ sĩ trí thức Huế nán lại tại Khu Trị Thiên một thời gian nữa. Nhân đó lãnh đạo có trách nhiệm với chúng tôi đề nghị chúng tôi trong lúc rảnh rổi ở Khu ủy nên tập trung viết một cuốn sách về Tết Mậu thân ở Huế. Nhờ thế tôi được đi các đơn vị thuộc Khu ủy đã từng chiến đấu trong Thành Nội để lấy tài liệu. Đi các đơn vị tôi thu được rất nhiều thông tin. Những thông tin đó cộng với những hiểu biết tôi có được trong suốt thời gian tôi công tác chiến đấu trong Thành Nội hồi tết Mậu thân tôi hình thành được nhiều đề cương bút ký Tết Mậu thân. Anh HP Ngọc Tường không về Huế, tôi tặng cho anh đề cương và thông tin thực tế bút ký Ngọn Cờ Trên Đỉnh Phu Văn Lâu, anh  Tường sửa lại là thành Ngôi Sao Trên Đỉnh Phu Văn Lâu. Anh Tường rất quý Hải Dương nên đề nghị tôi tặng cho Hải Dương một đề cương thông tin thực tế khác để Hải Dương được rời trại sản xuất đi viết bút ký với chúng tôi. Tôi đồng ý và tặng Hải Dương cuốn Cửa Thành Thép. Hải Dương sửa lại thành Cửa Thép. Còn tôi thì viết về hai cô người ngoại quốc theo đạo Q. bị bắt ở chiến trường Trị Thiên. Lê Phương Thảo (LCC) trong tết Mậu thân công tác ở Khu phố 4 (Gia Hội) nhưng ông không viết về chuyện ở Khu phố 4 mà viết về Phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh Huế. 

 Đang tập trung ngồi viết sách thì chúng tôi được Cục hậu cần Quân khu Trị Thiên do Đại tá Phan Xuân Kinh làm chính ủy mời qua thăm Cục Hậu cần. Tiếp đến Cục Chính trị Quân khu do Đại tá Hồ Tú Nam làm Cục trưởng cũng mời chúng tôi sang thăm. Trong thời gian chúng tôi lưu lại Cục chính trị Quân khu Trị Thiên, Thiếu tướng Lê Chưởng - Chính ủy Quân khu có đến thăm một vài lần. Thiếu tướng Lê Chưởng là người Quảng Trị, thời trai trẻ từng hoạt động cách mạng ở Huế, ông làm thơ với bút hiệu là Trường Xuân. Gặp đoàn văn nghệ sĩ từ Huế ra, ông Lê Chưởng có dịp kể chuyện Huế và cùng đọc thơ rất vui.  Sau đó tướng Lê Chưởng ra miền Bắc công tác, ông được cử làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục và ông đã qua đời vì một tai nạn ô-tô vào khoảng năm 1973 khi đang trên đường đi công tác. Sau nầy ra thăm miền Bắc có lần tôi đã đến thắp hương cho ông tại 116 Phó Đức Ngữ, P.Cống Vị, Q. Ba Đình, Hà Nội và thăm bà quả phụ Lê Chưởng (tức bà Diệu Muội - thứ trưởng Bộ Nội thương).

Gần cuối năm 1969, chúng tôi hoàn thành các bài viết của mình. Bài dài nhất khoảng 100 trang pơ-luya viết tay, bài ngắn chỉ 20 trang (bài của NĐX). Theo nguyên tắc lúc đó tất cả các bài viết ở chiến trường muốn gởi  ra miền Bắc đều phải chuyển qua Ban Tuyên huấn. Trước khi về lại Thành ủy Huế chúng tôi phải nộp các “tác phẩm mới” cho ông Trần Hoàn - phụ trách Ban Tuyên huấn. Ông Trần Hoàn “lượm lặt những sỏi sạn ra khỏi các bài viết” (chữ của ông Trần Hoàn) rồi gởi ra miền Bắc cho ông Bảo Định Giang - Trưởng Ban Văn Nghệ miền Nam. Ông Bảo Định Giang xem xong chuyển cho Nxb Giải Phóng. Sau đó Nxb Giải Phóng cho ra đời 2 cuốn  Ngôi Sao Trên Đỉnh Phu Văn Lâu của Hoàng Phủ Ngọc Tường và Cửa Thép của Nguyễn Khoa Điềm rất được chú ý. Còn bài của tôi không được in vì hai cô ngoại quốc theo đạo Q. đã “trở cờ” không giống như bài tôi viết, còn bài của Lê Phương Thảo thiếu cụ thể, nằm giữa thể loại bút ký và báo cáo nên cũng không được in. Chuyện chỉ có thế nhưng LCC không muốn nhớ lại như thế mà thay vào đó bằng những sự kiện ác liệt thê thảm sau đây: 

“Anh Tường đã viết xong ký sự “Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu”. Anh Nguyễn Khoa Điềm viết xong bút ký “Đông Ba cửa thép”. Anh Xuân, anh Vấn, anh Mỹ mỗi người một bút ký nói về Huế - Mậu Thân 1968. Riêng tôi, theo đề nghị của cả nhóm, viết “Tuổi trẻ Huế xuống đường từ 1963-1966” ước khoảng 400 trang đánh máy. Mỗi người khi viết xong đoạn nào đều đem đọc cho cả nhóm cùng nghe, cùng góp ý để sửa lại cho hay hơn.

Suốt gần bốn tháng miệt mài, thỉnh thoảng có đi tham gia cùi gạo ở đường mòn Hồ Chí Minh, hoặc cùng phát rẫy trồng sắn với bộ đội cơ quan Tuyên huấn. Mỗi người đều viết xong về một mảng Huế. Tôi gởi tập “Tuổi trẻ Huế xuống đường” cho anh Lê Chưởng, Chính uỷ quân khu mang ra Bắc. Anh Chưởng hứa là anh sẽ trực tiếp đến nhà xuất bản để đưa in, anh chịu trách nhiệm, vì anh đã đọc và anh rất thích. Khi tôi về lại Thành uỷ thì được tin Thiếu tướng Lê Chưởng, Chính uỷ quân khu Trị Thiên - Huế trên đường ra Bắc công tác, đã bị bom và hy sinh. Và dĩ nhiên tập “Tuổi trẻ Huế xuống đường” của tôi cũng theo anh về bên kia thế giới. Lúc bấy giờ không có thì giờ chép tập thứ hai để giữ lại một bản, mà chỉ có một bản duy nhất mà anh Lê Chưởng rất nhiệt tình mang đi và không còn nữa.

Nghe tin anh Chưởng hy sinh ai cũng thương tiếc một con người cách mạng kiên cường và rất có uy tín ở chiến trường Trị Thiên - Huế.(NTDN, tr.351, 352)
Tướng Lê Chưởng là một lão thành cách mạng, từng giữ chức chính ủy quân khu Trị Thiên rồi chuyển qua làm Thứ trưởng bộ Giáo dục, mất vì tai nạn ô tô khi đang đi công tác vào năm 1973 thế mà tác giả hồi ký NTDN LCC dám “nhớ” rằng ông “đã bị bom và hy sinh” từ năm 1970 và tác phẩm “Tuổi trẻ Huế xuống đường từ 1963-1966” ước khoảng 400 trang đánh máy của ông “cũng theo anh (Lê Chưởng) về bên kia thế giới” luôn. 

Và "Nghe tin anh Chưởng hy sinh ai cũng thương tiếc..." 
Một nhân vật lịch sử quan trọng như trường hợp ông Lê Chưởng mà LCC vẫn  dám cho chết trước 5 năm và chết vì bom Mỹ thay vì tai nạn ô-tô. Cho nên đối với những cán bộ cấp dưới ông Lê Chưởng, qua ngòi bút hồi ký của LCC có thể sống hay chết tùy theo các sự kiện liên quan đến cuộc đời họat động (thật và tưởng tượng) của tác giả. Ông Văn (thường gọi là Văn Côn hay Văn điếc) cùng hoạt động với ông LCC ở Gia Hội hồi tết Mậu thân 1968, theo ông Hoàng Lanh - nguyên Bí thư Thành ủy Huế, từng lãnh đạo ông LCC và ông Văn năm ấy, cho biết “Sau 1975 một thời gian ông Văn về công tác ở phường Vỹ Dạ,  và hiện nay vẫn mạnh khoẻ ở Vỹ Dạ”. Thế mà ông LCC đã cho ông Văn hy sinh từ năm 1968.  

“....anh Văn tổ chức một trung đội mạnh, được trang bị hoả lực tối đa để bảo vệ cho thương binh và các đơn vị vào sau. Tất cả vừa tập kết ở thôn Ngọc Anh, thì một quả pháo rơi ngay vào giữa chỗ chúng tôi đang ngồi, hất tung nhiều người ra tung toé. Anh Văn hy sinh tại chỗ và nhiều người bị thương. (NTDN, tr.329)
Trên đây chỉ một vài ví dụ dẫn chứng cho cái sự viết hồi ký liều lĩnh, “táo bạo” của tác giả LCC. 

4. Không nên “cầm nhầm”
Đọc NTDN điều người ta dễ nhận thấy nhất là ông LCC đã nhúng tay vào hầu hết các sự kiện lịch sử xảy ra ở Huế từ 1963 đến 1975. Nếu ông không tổ chức thì ít cũng tham gia tác động, hướng dẫn, lãnh đạo. Nếu đúng như thế thì phải phong ông LCC đến mấy lần anh hùng. Nhưng không...Một đồng chí lãnh đạo ở Huế thời LCC công tác ở Huế đọc xong NTDN bực mình thốt lên rằng: “Cái ông nầy kỳ quá ! Cái gì ông cũng vỗ ngực do ông làm ra cả rứa?”  
Vâng, tôi không ở gần ông LCC nhiều nên không thể hiểu hết những gì ông “cầm nhầm”. Tôi chỉ dẫn chứng một vài việc mà tôi biết rõ là sai thực tế sau đây:

NTDN có đoạn viết:“Đêm 20/8/ 1963, Lư  và tôi đang ở chùa Diệu Đế cùng với một bộ phận làm công tác tuyên truyền của đoàn sinh viên Phật tử Huế, nửa đêm binh lính Sài Gòn xông vào. Lư và tôi lách ngả sau nên thoát được.(NTDN tr.161)

Về sự kiện lực lượng vũ trang của chế độ Diệm tấn công chùa Diệu Đế đêm 20 đến trưa ngày 21.8.1963, với tư cách là Sinh viên Phật tử phụ trách phát thanh báo chí tại chùa Diệu Đế lúc đó tôi đã tường thuật nhiều lần khi viết về HT Đôn Hậu và đặc biệt trong bài “Bất ngờ đoàn Sinh viên Phật tử Huế 1963” đăng nhiều kỳ trên báo Giác Ngộ đã nêu trên. Xin trích một đoạn:  

“Đến đêm 20.8.1963, biện pháp giới nghiêm bổng dưng thắt chặt hơn bao giờ hết. Điện nước đều bị cắt. Đến khuya nghe chuông trống phía chùa Từ Đàm gióng lên hối hả nhưng mất liên lạc chúng tôi không biết chuyện gì đang xảy ra. Hoà thượng Thích Đôn Hậu - phụ trách lãnh đạo công việc đấu tranh tại chùa Diệu Đế, không ngủ được. Hoà thượng ngồi niệm Phật một cách bình thản. Nhờ thế chúng tôi cũng đỡ lo lắng. Tờ mờ sáng ngày 21.8, các bạn canh gác chung quanh chùa vào báo với Hoà thượng:“Cảnh sát dã chiến súng cắm lưỡi lê tuốt trần hình như họ đang chờ lịnh tấn công chùa.” Chúng tôi chạy ra xem thấy đúng như thế. Tôi vào mở máy nổ và mở máy phóng thanh cho Hoà thượng nói chuyện với lực lượng của Diệm đang bao vây chùa. Hoà thượng nói đại ý: “Chúng tôi là Phật tử, đấu tranh cho sự công bằng tôn giáo...” (Nguyệt san Giác Ngộ, số 87 tháng 6-2003, tr. 78-79)

Đoạn ký nầy tôi viết năm 2003 và đăng trên báo của Phật giáo, nếu có gì sai trái khó tránh được sự góp ý của Phật tử. Nhưng không có ai góp ý cả. Qua đó có thể khẳng định rằng trong đêm 20 rạng ngày 21.8.1963 lực lượng vũ trang của chính quyền Diệm chưa tấn công vào chùa Diệu Đế. Sáng 21.8 họ bao vây chứ cũng chưa tấn công. Mãi đến trưa họ mới bắt đầu dàn hàng ngang tấn công vào chùa. 

Với cuộc tấn công Tết Mậu thân 1968 - một sự kiện lịch sử quan trọng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế mà hai miền Nam Bắc lúc đó đã viết hàng trăm bài báo. Cho đến nay hai bên Việt Mỹ cũng đã viết hàng trăm cuốn sách (tôi đã có khoảng 20 cuốn) và chắc chắn sẽ còn nhiều sách nữa sắp ra đời cho nên mọi chi tiết lịch sử có liên quan đến Tết Mậu thân ở Huế đều được khảo xét rất kỹ. Hồi ký của một người “quán xuyến” hết mọi hoạt động ở Huế suốt những năm sáu mươi và nửa đầu những năm bảy mươi như ông LCC chắc chắn sẽ được người Mỹ và các nước phương Tây, và cả sinh viên Việt Nam hiện nay tìm tham khảo. Tôi xin dẫn chứng một trong hàng chục thông tin liên quan đến tết Mậu thân đó trong NTDN. Ông LCC:

“Trời vừa sáng ra, sáng mồng một Tết Mậu Thân 1968, lá cờ giải phóng rộng gần 100m2 nửa đỏ, nửa xanh, ngôi sao vàng năm cánh tung bay phần phật trên đỉnh Phu Văn Lâu. Huế được giải phóng rồi”.(tr.321)

Có đúng vậy không ? Xin thưa: Lá cờ đó không phải Cờ Mặt Trận Giải Phóng mà là Cờ của Mặt trận Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Việt Nam; lá cờ Liên Minh đó 1/3 ở giữa màu đỏ với ngôi sao vàng, 1/3 bên phải và 1/3 bên trái màu xanh. Khi thiết kế màu sắc cho lá cờ đó tôi và anh Hoàng Phủ Ngọc Tường được tham gia ý kiến. (Sau đó anh HP Ngọc Tường được cử làm TTK MTLM). Người may cờ là chị Lê Thị Mai - chị ruột của Giáo sư Lê Quang Vịnh - người tử tù của chế độ Diệm. Còn chuyện ông LCC có có mặt trong đoàn quân về Huề hôm sáng “mồng một Tết Mậu Thân 1968” hay không tôi dành cho ông LCC nhớ lại một lần nữa. 
v.v. và v.v.

*
*     *

Dù còn rất nhiều sự việc cần phải góp ý, nhưng do thời gian hạn hẹp và sức khoẻ nên tôi xin dừng ở đây, xin dành chuyện  liên quan đến Phật giáo cho các nhà nghiên cứu lịch sử đấu tranh yêu nước của Phật giáo, dành chuyện tranh đấu đô thị cho các anh chị em hiện còn đang sống ở Huế, Đà Nẵng, TP HCM và cả ở bên Hoa Kỳ, dành chuyện kháng chiến cho các vị đã từng lãnh đạo ông LCC hiện còn khoẻ mạnh ở Huế. 

Ý kiến cuối cùng của tôi muốn góp với ông LCC như sau:

NTDN là một hồi ký quan trọng, ông nên viết lại với một tâm thế khác. Chuyện gì ông làm ông nói rõ, chuyện gì ông nghe anh em kể ông nói ông nghe kể chứ không nên qui mọi chuyện vào ông cả; ông nên gặp lại những người đang sống hỏi chuyện họ nhớ gì về mình, và họ đã làm gì và làm như thế nào để ghi lại chứ không nên viết về một người nào đó mà khi đọc họ không biết là ông viết về họ; tuy là hồi ký nhưng phải chính xác về thời gian lịch sử, ông phải căn cứ trên các sự kiện lịch sử, đặc biệt là các bộ sử của Đảng bộ Thừa Thiên Huế và Tỉnh đoàn, Thành đoàn Huế; các sách về các sự kiện đấu tranh của Phật giáo từ 1963 đến 1975; khi trích dẫn lời phát biểu của các nhân vật lịch sử thì phải có chú thích nguồn, nếu không ông sẽ bị tội “vu khống” như nhiều đoạn ông viết về Phật giáo trong hồi ký NTDN. . 

Nếu ông không thể làm như trên thì tôi đề nghị ông nên đổi hai từ “hồi ký” ở bìa sách thành “tiểu thuyết” giống như tiểu thuyết Học phí trả bằng máu vậy và trong lời nói đầu ghi thêm mấy câu: “Những tên người và sự việc trong tiểu thuyết nầy đều do tác giả tưởng tượng, nếu trong thực tế có ai trùng tên xin cảm thông.”
Tôi và nhiều bạn đọc chung quanh tôi chờ đợi sự chọn lựa của ông.

Nguyễn Đắc Xuân
Gác Thọ Lộc, cuối tháng 6-2006

 

 
 
Các bài Huế xưa đến nay khác