Thầy Phan Văn Dật - cuốn từ điển sống ở Huế
Ở Huế thế kỷ XX, nhắc đến thầy Phan Văn Dật (1907-1987), mỗi ngành, mỗi giới, mỗi giai đoạn lịch sử, đều có những cách nghĩ, cách nhớ và cách gọi khác nhau.

Phan Văn Dật - Cựu học sinh Quốc Học từ năm 1924 đến năm 1927 nổi tiếng giỏi Pháp văn; Phan Văn Dật - một trong những học sinh Quốc Học - Đồng Khánh tham gia cuộc bãi khóa lịch sử năm 1927; Phan Văn Dật là nhà văn, tác giả các tập Bâng Khuâng (thơ, 1935), Diễm Dương Trang (tiểu thuyết, giải thưởng Tự lực văn đoàn năm 1935), Những ngày vàng lụa (thơ, đăng rải rác ở các báo, ở trong các sách hợp tuyển, Di cảo chưa in) - một trong số ít ỏi nhà thơ Huế được Hoài Thanh chọn đưa vào tác phẩm thời danh Thi Nhân Việt Nam (1943); Phan Văn Dật là thầy giáo các trường Đồng Khánh, Viện Hán học, Đại học Văn khoa Huế; Phan Văn Dật – một nhân sĩ trí thức tiêu biểu ở Huế sau năm 1975.v.v. Đối với tôi – thầy Phan Văn Dật còn là cuốn Từ điển sông ở Huế, là thầy dạy tôi môn “Huế học”. Thầy dạy tôi không những về kiên thức Huế mà còn dạy tôi về nhân cách của một người cầm bút xứ Huế. Nhằm hướng đến kỷ niệm 105 năm ngày sinh (1907-2012) và 25 năm ngày nhà thơ nhà giáo Phan Văn Dật qua đời (1987-2012), tôi có bài viết ngắn nầy xem như một nén tâm hương tưởng niệm thầy.

Nhà thơ Phan Văn Dật.  Ảnh trích Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh (Huế 1943).

1. Phan Văn Dật - đầu mối chuyện văn hóa lịch sử triều Nguyễn và Huế xưa

Thầy Phan Văn Dật sinh ngày 17-8-1907, tại xóm Xuân An, làng Phú Xuân  (Khoảng năm 1920, đổi thành Phường Phú Hội TP.Huế), con ông Phán sự công chánh Phan Văn Dư ( ? - 1939) và bà Trần Thị Hòa (1883-1962), cháu nội của ông Hiệu úy Phan Văn Huy, chắt nội của Phò mã Phan Văn Oánh và Trưởng Công chúa An Thường - con gái thứ tư của vua Minh Mạng. Nhắc xa hơn một chút: thầy là cháu 5 đời của Thảo nghịch Hữu tướng quân Phan Văn Thúy – vị tướng dẹp yên “phiến biến” Lê Văn Khôi ở Thành Phiên An năm 1835. Danh tính của Phan Văn Thúy còn  ghi trong sách sử là người chỉ huy binh dân đào sông Đông Ba chạy dọc theo phía đông Kinh thành Huế. Về bên ngoại, thân mẫu của thầy cũng xuất thân danh gia vọng tộc. Ông ngoại thầy là cụ Á Hy Trần Công Nhã. Chị của mẹ thầy là bà Trần Thị Hạnh lấy ông Lê Thanh Quang sinh ra ông Lê Thanh Cảnh – một trong những người học một lớp với Nguyễn Sinh Cung (Chủ tịch Hồ Chí Minh sau nầy) ở trường Quốc Học Huế năm 1908. Con trai ông Lê Thanh Cảnh là Tiến sĩ Lê Thanh Minh Châu - Viện trưởng Viện Đại học Huế trước năm 1975. Em kế thân mẫu thầy là cụ Trần Thanh Đạt – Thượng thư Bộ học triều Bảo Đại (thân sinh bà Trần Thị Thương Thương – người yêu bóng yêu gió nổi tiếng của Hàn Mặc Tử một thời). Em ông Đạt là hai nhà văn Trần Thanh Mại và Trần Thanh Địch. Các con của ông Mại tức em con cậu ruột của thầy Dật có nhiều người cầm bút nổi tiếng như Trần Tuân Lộ, Trần Thị Linh Chi, Trần Tuấn Mẫn.v.v. Tôi kể dài dòng như vậy để thấy thầy Dật là cái “đầu mối” để có thể đi sâu vào lịch sử các võ thần triều Nguyễn, về đời sống các bà trong cung Nguyễn, về người của các dòng họ lớn nối nhau góp phần làm nên bộ mặt văn hóa của Huế từ đầu triều Nguyễn đến nay, và cả về mối quan hệ khăng khít giữa tỉnh Quảng Trị và tỉnh Thừa Thiên xưa và nay.

2. Phan Văn Dật – người thầy Huế học

Mùa hè năm 1975, từ chiến trường tôi về Huế với hai bàn tay không. Cho đến đầu những năm tám mươi của thế trước tôi đã sưu tập được một tủ sách khả dĩ có thể cung cấp cho tôi kiến thức cơ bản về lịch sử văn hóa triều Nguyễn và Huế. Làm cán bộ Tuyên huấn Thành ủy, tôi kiêm luôn nhiệm vụ làm người hướng dẫn du lịch không chuyên. Trước phụ vụ khách của Thành ủy, sau cho khách của các khách sạn, các đoàn thể, các trường học. Khách nghe tôi thuyết minh họ rất thích. Tôi giới thiệu với khách về những gì tôi tâm đắc nhất, những gì tôi thấy giá trị nhất, có ý nghĩa lịch sử nhất chứ không phải theo nguyên bản một tư liệu văn hóa lịch sử nào. Tôi có được cái ý thức nầy do chính thầy Phan Văn Dật đã dạy cho tôi và tôi đã kể lại trong Phóng sự “Người hướng dẫn du lịch không chuyên” đăng trên báo Lao Động cách đây 15 năm. Cho đến nay tôi vẫn nhớ như in lời thầy dạy:"Anh phải chắc lọc nhào nặn chúng thành sản phẩm nghệ thuật rồi mới "bán"cho khách du lịch nghe chưa? Họ đi du lịch là đi chơi chứ không phải họ đến đây để học sử, học địa, học Huế của anh đâu nhé."

Lời dạy của thầy Dật là một châm ngôn luôn có mặt trên tầng cây số hướng dẫn du lịch nghiệp dư của tôi. Sau nầy không làm hướng dẫn du lịch nữa mà quay qua viết sách, tôi cũng thực hiện cái phương châm ấy.

Mỗi lần khách hỏi điều gì mà tôi không giải đáp được tôi đều phải hỏi thầy và được thầy giải đáp cho rất cặn kẽ. Cứ thế kiến thức về Huế của tôi lại có dịp được nâng lên. Khi tôi có những ý tưởng mới tôi đều trình bày thử với thầy. Nếu được thầy công nhận tôi rất yên tâm. Đôi khi tôi đã có những ý tưởng mới về triều Nguyễn và Huế xưa nhưng tôi sợ bề dày nghiên cứu Huế của tôi chưa đủ uy tín để thuyết phục được các nhà khoa học, tôi phải nhờ đến sự có mặt của thầy và nhờ ngay cả những người trong Hoàng tộc Nguyễn bảo đảm cho tôi. Ví dụ như câu chuyện tôi còn nhớ sau đây:

Vào khoảng đầu những năm 80, nhà nghiên cứu Phương đông Riabinine (Liên xô cũ) khi ông làm công trình về đế chế Nguyễn, ông rất tự hào với đôi mắt xanh của mình ông đã thấy được sự vĩ đại của vua Minh Mạng. Trước khi trình bày luận án Tiến sĩ, Riabinine đến Huế thẩm định lại những thông tin trong sử sách với thực tế Nguyễn. Ông đi cùng với nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo. Ông Hạo hỏi Riabinine:

-“Anh nghiên cứu Đế chế Nguyễn và vua Minh Mạng, vậy anh đã gặp và hỏi chuyện Nguyễn Đắc Xuân chưa?”

-“Nguyễn ..là ai? Tôi có thấy sách vở gì của ông ấy về triều Nguyễn đâu?”

Cao Xuân Hảo bảo:

-“ Anh nên gặp rồi sẽ biết?”

Sau đó Riabinine gặp tôi ở quán Cà-phê Sông Xanh gần khách sạn Hương Giang - nơi ông đang ở lại. Ông nói tiếng Việt rất sỏi. Ông kể chuyện nghiên cứu về sự lớn lao của vua Minh Mạng và muốn biết ý kiến của tôi theo gợi ý của Giáo sư Cao Xuân Hạo. Tôi nói ngay:

-“Ông làm luận án xong rồi, bây giờ ông hỏi ý kiến của tôi làm gì nữa? Nhỡ ý kiến của tôi khác với ý ông, liệu ông có sửa lại luận án của ông không?”

Riabinine quả quyết:

-“Nếu…”.

-“Được. Tôi sẽ mời thầy của tôi là cụ Phan Văn Dật  - hậu duệ của vua quan nhà Nguyễn, một người hiểu biết về nhà Nguyễn hàng đầu ở Huế hiện nay cùng dự để thầy bổ khuyết những chỗ bất cập của tôi”.

Riabinine lịch sự đáp:

-“Được như vậy tôi rất cám ơn ông!”

Sau đó tôi mời thầy Dật và họa sĩ Bửu Chỉ - cháu của cụ Ưng Quả, và là em con chú của học giả Bửu Cầm vào Hoàng thành nghe tôi thuyết minh với Ribinine về sự nghiệp vĩ đại của vua Gia Long. Thời gian thuyết minh kéo dài cả tuần lễ. Cuối cùng gút lại rằng:

Vua Gia Long đã có công thống nhất đất nước, có uy vũ khiến cho nhà Thanh phải trọng nể, có tư tưởng kết hợp Đông Tây rất tiên bộ. Ngược lại vua Minh Mạng đã kéo đất nước Việt Nam trở lại quỹ đạo của Phương Đông, dù triều Minh Mạng rất huy hoàng nhưng như ngọn đèn lóe sáng trước khi tắt vào cuối triều Tự Đức. Riabinin rất bất ngờ. Ông hỏi ý kiến thầy Dật, thầy bảo:

- “Theo chúng tôi, lịch sử triều Nguyễn là như thế.”

Riabinine xúc động nói:

-“Cám ơn các ông. Nếu không đến Huế, không được gặp các ông, luận án của tôi trở nên lạc hậu rồi.”

Họa sĩ Bửu Chỉ, thầy Phan Văn Dật, Riabinin và tác giả. Anh TL của NĐX

 Giữ đúng lời hứa, trở về Mạc - Tư - Khoa, Riabinine bỏ quan niệm cũ và quay qua nhấn mạnh về tinh thần đổi mới, kết hợp Đông Tây của vua Gia Long. Công trình của ông đã ra đời và tạp chí Sông Hương một dạo đã có bài giới thiệu.

3. Kỷ niệm không thể nào quên

Vào khỏng 10 giờ, một buổi sáng đầu những năm 80 của thế kỷ trước, ông Bí thư tỉnh ủy Bình Trị Thiên Vũ Thắng cho người gọi tôi đến khách sạn Hương Giang để hướng dẫn cho một vị khách nước ngoài thực hiện một việc quan trọng. Tôi đến nơi thì gặp một người Nga đầu hói, râu tóc bạc phơ nhưng còn khỏe mạnh. Mặt mày ông nhăn nhó như đang bực tức một điều gì. Thấy tôi, ông Vu Thắng  nói:

- Đây là nhà Đông phương học Boris Riftin thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xô-viết. Đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh giới thiệu ông vào đây để đi tìm sách cũ về truyện Hán-Nôm, nhưng hai ngày qua ông tìm trong các thư viện nhân dân ở tỉnh không có. Vậy đồng chí có thể giúp gì cho ông được không?

Đột ngột quá nên tôi không dám trả lời được hay không. Nhà thơ Bằng Việt (phiên dịch tiếng Nga) ngồi bên cạnh ông Boris Riftin, thấy tôi là người quen nên nói thêm vào:

- Nếu được thì anh cố gắng giúp ông ta, mất hai ngày ở đây mà không tìm được gì ông bạn cáu lắm.

Không thể từ chối được, tôi trả lời vị lãnh đạo tỉnh:

- Các thư viện nhân dân chắc chắn là không có sách Hán Nôm rồi, tôi có thể giúp ông ta đến các tủ sách tư nhân, nhưng với điều kiện ...

- Điều kiện gì? Tiền à? - Vị lãnh đạo tỉnh Vũ Thắng nói với thái độ sẵn sàng chi tiền.

- Không phải. Với điều kiện tôi đưa ông đến nhà dân mà không có công an đi theo. Dân không muốn công an vô cớ đến nhà họ.

Vị lãnh đạo tỉnh hiểu ra vấn đề và đồng ý ngay. Nhà thơ Bằng Việt dịch sang tiếng Nga cho Boris nghe và ông đứng dậy đi ngay. Không phải chờ bố trí ô-tô, Boris và Bằng Việt leo lên một chiếc xích-lô đậu trước khách sạn, tôi đạp xe đi trước dẫn đường.

Tôi đưa Boris lên phía Khách sạn Morin rẽ qua Chaffanron rồi đến nhà tôi là hai cái phòng hẹp của Nhà hộ sinh Kim Cúc cũ ở 16 Lý Thường Kiệt. Tôi mở tủ lấy cho Boris xem mấy tập truyện Nôm Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh, Thiếu Nữ Hoài Xuân (Vô danh thị), Nguyệt Hoa Vấn Đáp, Tây Nam Nhị Thập bát Hiếu Diễn Ca (Thạch Am Trương Cam Lựu) ….mà tôi đã mua được ở chợ trời gần đầu phía bắc cầu Trường Tiền. Boris rất ngạc nhiên, ông không hiểu nổi trong nhà một cán bộ làm Tuyên giáo lại còn cất giữ những cuốn Truyện cổ như thế nầy. Boris còn ngạc nhiên hơn khi qua nhà thầy Phan Văn Dật ở 53/2 đường Nguyễn Chí Diễu (đường Lục bộ cũ).

Hôm ấy không có điện, buổi trưa nóng bức, mặt mày nhễ nhại mồ hôi và mồ hóng, thầy Phan Văn Dật tay cầm cây đèn dầu, tay lật từng chồng sách cũ xếp trong nhà bếp để tìm sách cho người bạn Nga. Cuối cùng thầy chọn được một chồng, ôm  ra cho Boris xem. Boris rất giỏi Hán Nôm, từng nghiên cứu bên Bắc Kinh nhiều năm, nên mới liếc qua chồng sách cũ ông đã thích thú kêu lên bằng tiếng Nga và anh Bằng Việt dịch lại:

- Đây rồi ! Đây rồi ! Những gì tôi muốn tìm đây rồi. Cám ơn lắm lắm.

Ông lấy sổ tay ghi lia lịa. Ông chọn những cuốn ông thích nhất để qua một bên. Cuối cùng ông hỏi:

- “Thưa ông, cám ơn ông đã khó nhọc tìm cho tôi xem những cổ thư quý nầy, đây là những cuốn sách tôi đang mong đợi để nghiên cứu. Ông có thể cho tôi mượn để sao chép hoặc nếu ông không còn dùng nữa ông vui lòng nhượng lại cho tôi. Nếu được như thế tôi vô cùng cám ơn ông”.

Thầy Phan Văn Dật vốn là một nhà thơ, dù rất nghèo nhưng thầy không thể nói chuyện mua bán sách với một vị đại trí thức của Nga như thế nên thầy đáp:

- “Nhà tôi có nhiều sách, nhưng tôi không cho ai mượn dù người đó ở gần tôi. Và tôi cũng không bán!”

Boris đổi sắc mặt, hết sức thất vọng:    

-“Thế không may cho tôi quá. Sáng ngày mai tôi phải rời Huế rồi…!”

Thầy Dật đáp:

“Thưa ông Boris Riftin, tôi là một người Huế, văn học Nga rất gần gũi với tôi. Tôi có nhiều bộ văn học Nga, tôi đã đọc Pushkin, Anton P. Chekhov, Lev N. Tolstoy, Fyodor M. Dostoevsky…qua bản dịch tiếng Pháp từ hòi còn nhỏ, vừa rồi lại đọc Pasternak, nhưng mãi đến hôm nay tôi mới hân hạn được đón tiếp một nhà nghiên cứu văn học Nga. Để ông có thêm một kỷ niệm Việt Nam, tôi xin biếu không ông toàn bộ những cuốn sách ông đang cần có để nghiên cứu Việt Nam!”

Boris quá bất ngờ. Ông đứng dậy bắt tay thầy Dật nói rất xúc động:

-“Xin cám ơn ông. Đây là một kỷ niệm quá sâu sắc. Một lời cám ơn không đủ nhưng tôi không biết nói gì hơn. Các bạn tôi ở Viện Hàn Lâm khoa học Liên-xô ở Moscow cũng sẽ rất xúc động khi nghe tôi kể lại kỷ niệm văn học nầy.”

Thầy Dật:

-“ Tôi cũng rất hân hạnh được gởi những cổ thư nầy từ Cổ đô Huế sang lưu giữ ở Thủ đô Moscow”.

Cuộc chia tay hôm ấy giữa những người cầm bút Nga Việt rất  xúc động. Thầy Dật đưa “đoàn” chúng tôi ra tận đường Nguyễn Chí Diễu rồi mới trở lại nhà ở sâu trong hẻm.

Tưởng như thế là xong việc, không ngờ khoảng một tuần sau có người đem đến nhà tôi ở 16 Lý Thường Kiệt một xách quà nói là của Nhà Đông Phương học Nga gởi. Quà gồm có hai chai rượu Vôt-ka, bốn con cá khô và mấy gói bột canh. Lá thư gởi kèm bằng tiếng Nga và bản dịch của nhà thơ Bằng Việt đại ý viết:“Cám ơn ông Phan Văn Dật và ông Nguyên Đắc Xuân đã giúp tôi có được một kỷ niệm lớn  ở Cố đô Huế, không những vì khối cổ thư các ông tặng tôi mà còn là tấm lòng hiểu nhau của hai dân tộc Nga  Việt. Ở Nga, người ta quý trọng nhau mới tặng rượu Vốt-ka và cá hồi khô. Tôi hân hạnh gởi tặng mỗi ông một chai rượu với hai con cá hồi. Xin lỗi, hôm theo ông Phan vào nhà bếp, tôi thấy bếp nguội lạnh và trong tủ thức ăn trống không. Tôi nghĩ rằng ông thiếu thực phẩm. Khi sang Việt Nam, tôi có chuẩn bị một số thực phẩm khô. Tôi chia sẻ với ông vài gói bột canh. Rất mong được ông nhận cho. Khi trở lại Moscow , trong nhà tôi sẽ có thêm một cải tủ nhỏ để lưu giữ những cổ thư mà hai ông tặng tôi. Cải tủ ấy mang tên hai ông. Tôi và gia đình tôi sẽ rất hạnh phúc vào một ngày nào đó chúng tôi được đón hai ông đến thăm gia đình tôi ở Moscow. “Giáo sư Boris L. Riftin, Viện Văn học Thế giới A.M.Gorky, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xô-viết. 25a Vorovsky street, Moscow,121069, USSR”.

 Chuyện cũ gần 30 năm, thầy Phan Văn Dật đã qua đời gần 25 năm, tôi chưa có dịp đi Mạc Tư Khoa nên chưa được hân hạnh đến thăm gia đình Giáo sư Boris Riftin. Tuy nhiên, mỗi lần nhớ đến nước Nga tôi không thể không nhớ đến Giáo sư Riftin và Tiến sĩ Riabinin. Tôi sẽ rất hạnh phúc vào cuối đời mình có một lần được gặp lại hai trí thức Nga mà họ đã mang theo hình ảnh của thầy tôi sang Nga, gặp ở Huế hay ở Mạc Tư Khoa.          

 4. Tủ sách đời người

Về chuyện học hành ở nhà trường, thầy Phan Văn Dật chỉ đỗ Thành Chung ở Huế (tức học lớp 9 ngày nay) vào năm thầy 20 tuổi (1927), rồi đi xin việc làm để giúp đỡ gia đình. Về sau thầy trở thành nhà thơ mới, người trí thức tiêu biểu, cuốn “tự điển sống” ở Huế là nhờ thầy tự học qua sách vở. Trong cuốn hồi ký thầy đọc cho mấy người cháu nội ghi để lại cho các con  thầy vào năm 1983, có đoạn viết: “Cha nhất sinh làm gì cũng đam mê, nhưng đam mê nhất là chuyện học hành, để mong biết thêm được điều gì hay điều ấy. Cho nên làm được bao nhiêu tiền đều bỏ vào việc mua sách, có khi phải hy sinh những điều cần thiết khác. Nhờ mạ cũng chìu theo ý muốn của cha nên không có trở ngại gì. Đáng lẽ ra cha phải có một ngôi nhà thật rộng rãi, cao ráo, không sợ lụt, nhưng không thể nào vừa có nhà vừa có một kho sách, nên cha đã làm theo sở nguyện của mình”.

Cái “kho sách” tạo bằng mồ hôi nước mắt của thầy Dật theo tôi phải nói là một cái “nhà sách” mới đúng. Suốt những năm học Huế, tôi đã được thầy cho phép đến nhà thầy học. Trong ngôi nhà cấp 4 lợp ngói, ngoài cái phòng hẹp kê giường ngủ, bộ bàn ghế để giữa nhà, hai ghế bành cũ để sát vách dành cho khách, một bộ ngựa gõ dành cho con cháu, còn đâu đâu cũng kê tủ lớn, tủ nhỏ đựng đầy sách. Bộ bàn để giữa nhà vừa dùng làm bàn ăn và cũng vừa làm bàn viết, bàn đọc sách. Nhiều tủ sách còn dựng cả trong nhà bếp. Tôi không biết “nhà sách” của thầy có những loại sách gì, qua tiếp xúc tôi được biết khái quát thầy có đủ các loại sách kiến thức về văn học nghệ thuật thế giới bằng Pháp ngữ, Anh ngữ, có đủ các bộ sách sử của triều Nguyễn bằng chữ Hán, chữ Nôm, các sách viết về Huế  bằng Pháp ngữ và quốc ngữ, có đủ các bộ sưu tập thơ văn tiền chiến, hậu chiến. Đặc biệt thầy có bộ từ điển đồ sộ Larousse Thế kỷ XX, hàng chục cuốn Từ điển chuyên ngành về âm nhạc, mỹ thuật, kiến trúc, danh nhân, những sự kiện văn hóa lịch sử của nhân loại. Quý nhất là các bộ tạp chí Nam Phong, Đông Dương tạp chí, Đô thanh hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hué).v.v. Cái “nhà sách” ấy đã cung cấp cho thầy đủ kiến thức để dạy Việt văn ở các trường Đồng Khánh, Đại học Văn khoa Huế, dạy Hán văn ở Viện Hán học thuộc Đại học Huế, dạy Mỹ thuật ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế và được xem như một học giả tiêu biểu của Huế.v.v. Và, thật mỉa mai hay may mắn như sự thực thầy đã kể :“Ai ngờ trong buổi tàn niên nầy (1983), không lương tiền, không hưu bổng nầy, cha lại nhờ bán sách ấy mà nuôi sống một phần bản thân[1] Tôi đã chứng kiến thầy bán bộ Đô Thành Hiếu Cổ (BAVH) cho thư viện Bình Trị Thiên, bộ Larousse Thế kỷ XX cho một người Hà Nội, nhiều bộ sách tạp chí khác thầy bán cho ai tôi không biết, riêng nhiều bạn bè tôi và bản thân tôi cũng được thầy nhượng cho nhiều sách quý. Đối với giới nghiên cứu, sưu tập sách, tài liệu cũ chuyện mua bán, trao đổi sách là chuyện cần thiết và bình thường. Đối với nhiều bộ sách thầy không còn dùng nữa, con cháu chưa có người nối nghiệp, thầy bán đi để “nuôi sống một phần bản thân” là một việc rất cần thiết. Bán được giá cao càng tốt. Tuy thế thầy đã dành cho tôi một đặc ân mà tôi phải nhớ suốt đời. Nhiều lần thầy bảo tôi: “Những cuốn sách nầy nhiều người hỏi mua với giá cao mà tôi không bán. Bởi vì tôi thấy nó rất cần cho việc nghiên cứu Huế của anh, dù anh không có nhiều tiền bằng họ nhưng tôi vẫn dành cho anh. Tôi dành cho anh để anh dùng và nhiều nhà nghiên cứu khác được dùng chứ không phải để làm của trao qua bán lại hoặc khóa chặt trong tủ kính”.

Nối nghiệp thầy Dật, tôi cũng có một “nhà sách” Huế tại Gác Tho Lộc. Khổng rõ rồi ra cuối đời tôi có thể tránh được hoàn cảnh như cuối đời thầy Dật không nêu trên không?  

5. “Thầy ơi!”

Cuối năm 1986, gia đình tôi được lệnh phải rời căn xép ở đầu “khu tập thể” 15 Lý Thường Kiệt[2] để Thành ủy liên doanh xây dựng khách sạn du lịch. Không còn nơi tá túc, tôi thực hiện lời khuyên và sự giúp đỡ của bà con, bạn bè, tôi chuẩn bị về làm một ngôi nhà nhỏ trên dung đất mà ông bà nhạc đã dành cho vợ chồng tôi từ năm 1978 bên bờ sông Thọ Lộc. Nghe tin tôi sắp làm nhà ở đầu đường vào chợ Cống gần Phủ An Thường Công chúa, thầy Dật rất vui. Thầy bảo tôi: “Anh có nhà rồi, qua về Thành Nội-chợ Cống, tôi có dịp đạp xe ghé lại nói chuyện chơi với anh!” Tôi rất mừng. Được như thế tôi lại có dịp hỏi thầy thêm một số chuyện nữa. Bf xã tôi lại có ý định sẽ mời thầy ở lại ăn cơm và nghỉ trưa bên sông Thọ Lộc cho mát mẽ. Đầu năm 1987, vật liệu gỗ, đã, xi-măng tập kết đầy đủ, tôi chuẩn bị đặt đá khởi công xây nhà thì đột nhiên sáng sớm ngày 11-2-1987, chú Phan Văn Chương - con trai út của thầy, xuất hiện, thảng thốt báo tin:

- “Anh Xuân ơi, ba em mất hồi khuya rồi”. 

Thật quá đột ngột. Tôi hết sức xúc động:

-“Thầy đau chi mà mất nhanh vậy?”

Chương đáp:

-“Tối qua ba em ăn uống bình thường. Đến khuya hơi mệt tim một chút. Rứa thôi! Trước khi mất ba em dặn phải báo cho anh ngay!”

 “Vậy sao?”

Thầy có nhiều học trò, người thân ở Huế mà đến lúc sáp lâm chung thầy không dặn con trái báo tin cho ai biết mà chỉ báo cho riêng tôi. Sự tin cậy của thầy là một vinh dự cuối cùng thầy dành cho tôi. Tôi khóc. Tôi khóc vì tôi chưa được như thầy nghĩ về tôi. Khóc vì sợ trong tương lai tôi có giữ được những điều thầy phó thác cho mình không. Hình như thầy biết trước cuộc giả từ cõi tạm nầy. Cách đó không lâu thầy gọi tôi sang nhà hôm thi thầy cho những cuốn sách mà người Pháp đã ghi chép sau khi họ đị du lịch Huế hồi cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 (như cuốn Le Tour d’Asie của Marcel Monnier), hôm thầy tặng tập bản thảo đánh máy Cai Dư Ký Thực của cụ nội Phan Văn Huy ghi chép về bà Trưởng Công chúa An Thường, và đặc biệt hôm thày tâm sự chuyện riêng và tặng tôi tập hôi ký “Kỷ niệm thiếu, ấu thời”.  Ngoài ra thầy còn kể cho tôi nghe nhiều chuyện Huế ít người biết mà thầy cũng chưa tiện viết như chuyện vua Thanh Thái vói cung nữ trong Tử cấm thành, chuyện vua Bảo Đại con ai, chuyện các bà trong cung Nguyễn, chuyện Đạm Phương nữ sử, chuyện làm báo làm thơ với các nhà thơ nhà văn Lưu Trọng Lư, Hải Triều, Xuân Diệu, Huy Cận.v.v.   

Hồi ký “Kỷ niệm thiếu, ấu thời” của Phan Văn Dật, bản chép tay trên giấy vở học sinh (1983).

Nhân ngày giỗ lần thứ mười (13-1- Bính Tý), tác giả và các bạn học trò cũ của thầy Phan Văn Dật, viếng mộ thầy. Ảnh TL của NĐX

Sau giây phút xúc động, tôi quyết định dừng việc khởi công xây dựng nhà để phụ với gia đình thầy lo tang lễ cho thầy. Buổi sáng hôm ấy, người thân, bạn bè và học trò cũ của thầy tề tựu đông đủ. Người đi theo thầy địa tìm đất, người lo viết điếu văn, người phụ với gia đình tổ chức tang lễ. Chúng tôi tìm được một huyệt mộ trên đồi cao thuộc nghĩa trang Thành phố, nhìn thẳng phía sau núi Ngự Bình. Lúc sinh thời thầy rất gắn bó với triều Nguyễn, tuổi ấu thơ thầy được các bà trong cung Nguyễn bồng bế, lớn lên đi dạy thầy được nhiều nữ sinh quý mến nên chúng tôi mời chị Tôn nữ Như Ngân – một người Hoàng tộc, học trò cũ của thầy, đọc Điếu văn trước mộ thầy. Giọng Như Ngân trong trẻo, tình cảm thích hợp với phong cách dạy học thanh thản sâu lắng của thầy. Vĩnh biệt thầy nhưng kiến thức của thầy, hình ảnh của thầy vẫn sóng mãi với nhưng nhà nghiên cứu Huế, với những ai đã từng được học với thầy. 

Nguyễn Đắc Xuân
Huế, tháng 8-2011


[1] Trích Hồi ký, bản viết tay, tập 3, tr. 29/31

[2] Năm 1983, nhà bà Kim Cúc bán cho Phòng thuế vụ TP. Huế, gia đình tôi phải dọn qua ờ cái phòng xép ga-ra ô-tô của Thành ủy tại 15 Lý Thường Kiệt.

 

 
 
Các bài Người ấy trong tôi khác