Vài vấn đề trong quá trình hình thành quyển “Từ Điển Tiếng Huế”:
Trong quá trình hình thành quyển “Từ Điển Tiếng Huế”, tác giả đã nghiên cứu và sưu tập tiếng Huế và ngôn từ xứ Huế trong đời sống hàng ngày của người dân xứ Huế. Tác giả đã nêu ra những bước đường đã đi, cũng như đã đưa ra những khó khăn và những kinh ngiệm mà mình đã trải qua.

Sau hơn 10 năm nghiên cứu miệt mài tiếng Huế, chúng tôi đã hoàn thành đựơc quyển “Từ Điển Tiếng Huế” in tại California Hoa Kỳ năm 2001. Trong lần in thứ hai năm 2004 nầy tại thành phố Hồ Chí Minh, quyển Từ Điển nầy đã lên tới 1000 trang. Trong quá trình hình thành quyển Từ Điển Tiếng Huế, chúng tôi đã đi qua nhiều đoạn đường khá chông gai, gặp phải nhiều khó khăn cũng như đã có nhiều trăn trở. Và hôm nay, chúng tôi xin trình bày cùng qúy vị vài vấn đề trong quá trình hình thành quyển Từ Điển Tiếng Huế của chúng tôi.  

I/ Sưu tập tiếng Huế: Ngôn và từ

Trước hết, khi nói đến “tiếng Huế” là chúng tôi muốn nói đến “ngôn từ xứ Huế”, có cả “Ngôn” và có cả “Từ”. Tiếng Huế, không phải chỉ có các từ đơn mà thôi mà còn có cả những câu, những thành ngữ, những  ca dao tục ngữ mà người Huế thường hay dùng trong đời sống hàng ngày của họ. Ngôn từ phản ảnh đầy đủ tâm tư và cuộc sống của con người nên không thể tách biệt các từ Huế ra khỏi ngôn từ xứ Huế, cũng như không thể tách vua ra khỏi các quan nều muốn có được hình ảnh của một triều đình. Giáo sư Nguyễn Lân, tác giả “Từ Điển Từ và Ngữ Việt Nam” (NXB TP HCM, 3/2000), cũng cùng một ý kiến: “Từ Điển không những chỉ có những từ mà còn có những thành ngữ  rất phong phú và gợi cảm trong tiếng nói của dân tộc”.

 Sau nữa, nói cho cùng thì “tiếng Huế” hay “ngôn từ xứ Huế”,  cũng đều là những từ những ngữ của tiếng Việt chung mà thôi, nhưng đó là những từ và ngữ của tiếng Việt chung mà người Huế đã rất thường dùng, đã dùng nhiều lần, nghĩa là đã xử dụng với tần số xử cao, và họ đã dùng với bản sắc riêng và hầu như đã lấy làm của riêng của mình.

Do đó, trong quá trình sưu tập “tiếng Huế”, chúng tôi đã ghi lại những chữ ø, những câu trong ngôn từ của người Huế,  ngôn từ mà họ dùng thường ngày cùng các câu hò , các câu tục ngữ và ca dao xứ Huế mà họ thường xử dụng trong lời ăn tiếng nói của họ

Có thể có người đã ngộ nhận là quyển Từ Điển Tiếng Huế phải chỉ là những tập hợp các từ đơn Huế mà thôi cũng như cũng có thể có người ngộ nhận là khi ghi lại trong quyển Từ Điển các câu ca dao tục ngữ và những thành ngữ mà dân Huế thường dùng, quyển “Từ Điển Tiếng Huế” đã trở nên lạc nghĩa. Vì lẽ đó, ngay trong lần in thứ nhất năm 2001, chúng tôi đã cẩn thận giải thích để khai thông những “băn khoăn trăn trở” nầy qua lời cẩn bạch của chúng tôi trong “Lời Nói Đầu”û của quyển Từ Điển.

II/Sưu tập tiếng Huế: Nguồn từ

Để sưu tập các “từ Huế á và tiếng Huế”, chúng tôi đã phải vận dụng nhiều nguồn từ khác nhau:

1/ Trước hết là trí nhớ của tôi qua hơn mấy chục năm ở Huế, đi từ một cậu bé cho đến lúc khôn lớn, từ tuổi thơ dại cho đến lúc bước vào tuổi trung niên. Chúng tôi cũng đã được cái lợi điểm là đã tiếp xúc với nhiều giới người Huế qua vai trò của một bác sĩ Tai Mũi Họng, chữa cho đủ hạng người, đủ hạng tuổi của xứ Huế liên tiêp trong nhiều năm. Về sau, trong những cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại với nhiều người đã già, đã luống tuổi, với nhiều hiểu biết về xứ Huế, chúng tôi cũng đã có dịp gần gũi để thâu nhận các chữ Huế xưa, các chữ Huế của một thời đã qua. Chúng tôi cũng đã có dịp hầu chuyện các vị người Huế ở Việt Nam: ở TP Hồ Chí Minh, ở Huế, ở ngoại ô Thừa thiên Huế qua các lần điền dã, khởi đầu từ năm 1992 liên tiếp cho đến nay, cũng đã trên 12 năm . 

 2/  Chúng tôi cũng đã bổ túc cho sự hiểu biết về tiếng Huế của mình qua nhiều lần điền dã tại Thừa thiên Huế. Chúng tôi đã nhấn mạnh về khía cạnh nghiên cứu tiếng Huế tại các vùng nông thôn, tại các vùng hẻo lánh xa xăm, những nơi mà tiếng Huế chưa bị xâm nhập bởi qúa trình chuẩn hóa tiếng Việt. Qua những lần nghiên cứu điền dã nầy, chúng tôi cũng không quên ghi lại các câu hò, điệu hát của người dân Huế các câu ca dao , tục ngữ Huế, mà như chúng tôi đã trình bày kỹ càng trên đây, chúng đều là thành phần của lời ăn tiếng nói của dân chúng Thừa thiên Huế.

3/ Kho tàng ca dao tục ngữ, hò Huế và vè Huế của con dân Huế mà trước đây nhiều tác giả Huế đã cất công sưu tập và ghi lại đều được chúng tôi lần mò tìm kiếm và ghi vào quyển Từ Điển. Chúng tôi đã có được các quyển ca dao tục ngữ vô giá của các tác giả như Ưng Luận, JM Nguyễn Văn Thích, Lê văn Chưởng, Triều Nguyên, Tôn Thất Bình v.v.và chúng tôi đã lần lượt đưa vào quyển Từ Điển Tiếng Huế .

4/ Các từ điển cổ như Từ Điển Việt Bồ La của Cha Cố Alexandre De Rhodes, của Taberd, của Pigneau De Behaine, của Hùynh Tịnh Của, của Génibrel đều được chúng tôi rà đi rà lại để tìm các chữ Huế xưa. Tuy mất rất nhiều công nhưng kết quả đã làm cho chúng tôi vô cùng sung sướng. Chúng tôi cũng đã “rà” các quyển Từ Điển khác, các từ điển Việt Nam, các từ điển Chàm,  Từ Điển Mường v.v. Lại còn những từ điển đặc biệt như Từ Điển Chữ Nôm, Từ Điển Các Từ Cổ v.v, chúng tôi cũng nai lưng ra tìm.

 5/ Chúng tôi cũng không quên theo dõi các câu, các chữ đang được dùng qua các sách báo đương thời, nhất là các sách báo phát hành ở Huế, hoặc ở khắp nơi trên thế giới của các hội Nhớ Huế, Thương Huế, các tạp chí Sông Hương, Tiếng Sông Huương v.v. Lối viết, lối hành văn, lối dùng chữ hiện đại đều được chúng tôi ghi vào vì có tiếng Huế xưa thì cũng có tiếng Huế nay .

 6/ Ngoài ra qua nhiều liên lạc, liên hệ, quen biết và cảm thông, chúng tôi cũng đã nhận được một số đáng kể các chữ Huế mà con dân Huế các nơi đã thâu thập đươcvà gởi về cho chúng tôi. Nhiều người đã lẳng lặng sưu tập và gởi cho chúng tôi nhiều kho tàng tiếng Huế dân giả được dấu kín ở những nơi hẻo lánh. Tim chúng tôi đã bao phen rung động mỗi khi nhận được những hàng chữ dày đăc qúy hơn vàng này.

7/ Chúng tôi cũng đã phải nghiên cứu các địa danh chính ở Huế, các tên người, những tên gắn liền với Huế , các tên được nhắc nhở tới trong các ca dao, trong các câu hò điệu hát. Đôi khi, chúng tôi đã phải về lại Huế để kiểm chứng cho chính xác.

III/ Sưu tập tiếng Huế : Các lối nói

 Ngôn từ của người Huế có nhiều loại , và được dùng với nhiều cách :

 A/  Trước tiên,  họ rất thường dùng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của họ các “phương ngữ” của Thừa Thiên Huế tức những tiếng địa phương của riêng Huế, những tiếng chỉ dùng ở Huế mà ít nơi nào khác trên đất nước dùng đến. Ví dụ: “mô, tê, răng, rứa”, hoặc “côi” là trên, “chộ” là thấy, “trốt” là đầu v.v...Ngoài ra,  ở một vài vùng ở Thừa Thiên Huế, ngừơi dân ở đấy đã dùng  những thổ ngữ của họ,  đặc biệt và hiếm hoi hơn. Ví dụ: “khóot” ở làng Liễu Cốc hoặc “đột đột” của làng Phước Tích chẳng hạn.

B/  Ngoài ra, người dân Huế cũng dùng các từ, các chữ  chung của toàn dân nhưng có một số lớn những chữ, những câu đã đựơc dân Huế dùng rất thừơng trong đời sống hàng ngày của họ, với ù “tần số xử dụng” rất cao so với các vùng khác của đất nước. Họ đã dùng với nhiều cách:

 1/  Cách  nói văn hoa: Họ dùng nhiều tục ngữ, ca dao và nhiều thành ngữ trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của họ. Họ nói một cách tự nhiên, song suốt, không có vẻ gì là sáo ngữ, làm cho câu văn tự nhiên thành trơn tru, bóng bảy hay ho. Không một nơi nào trong nước đã dùng các chữ văn hoa trong câu chuyện hàng ngày như vậy. Người Huế dùng lối nói văn hoa nầy chủ ý để nhấn mạnh ý mìmh muốn nói và vì thế câu nói đã trở nên súc tích hơn, phù hợp với tật cố hữu “nói ít hiểu nhiều” của dân Huế hơn. Ví dụ: “Năm hạn tháng xung”, “Bói ra ma quét nhà ra rác”, “Đèn nhà ai nấy sáng”, “Đa ngôn đa quá”, hoặc “Tích cốc phòng cơ” v.v..Đó là đặc tính nói theo lối Huế, một khía cạnh đặc biệt của tiếng Huế, một đặc thù của ngôn từ xứ Huế mà một vài nhà biên khảo về tiếng Huế đã nhận xét thấy và đã nêu lên như Mặc Khách (“Phiếm luận về tiếng Huế ngày xưa”, Tạp chí Sông Hương số 1, Huế, 1983) hoặc Tiểu Kiều (“Tiếng Huế trong lối nói văn hoa”, Tạp chí Nhớ Huế, NXB Trẻ, TP HCM, 2003).     

 2/  Cách nói chữ: Họ thích dùng những câu chữ Hán thông thường trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của họ. Ví dụ: “Bần cư tại thị vô nhân vấn, Phú tại sơn lâm hữu khách tầm” hoặc “Hàm huyết phún nhơn tiên ô kỷ khẩu”. Những câu chữ Hán đó đã được ghép ngay vào trong câu chuyện đang nói một cách rất tự nhiên, song suốt. Có thể đây là tàn dư ảnh hưởng “vang bóng một thời” của các cụ Đồ bốn phương, “chữ nghĩa đầy mình”,  quy tụ về Huế để ứng thí tại các trường thi của triều đình ngày xưa.

 3/ Cách  nói điển tích: Họ cũng dùng điển tích trong câu chuyện hàng ngày của họ, phần lớn là điển tích lấy từ lịch sử Tàu, ví dụ : “Phản Trụ đầu Châu” hoặc điển tích trong nước ví dụ như “Vắng như chùa Bà Đanh” v.v. hoặc lấy từ các tích tuồng hát bội như “Kéo cả bầy họ Tạ” trong tuồng Sơn Hậu chẳng hạn. Các điển tích nêu ra có công dụng nói lên được nhiều sự kiện, nhiều ý nghĩ, khỏi phải dài dòng. Có thể đó cũng là tàn tích xưa của nghệ thuật hát bội  lúc còn thịnh trị, một nghệ thuật mà ảnh hưởng đã lan ra và thẩm thấu trong dân chúng ở Thừa thiên Huế. Vì thế, dân Huế đã thường có một nhận định về “trung, nịnh” rất rõ ràng minh bạch.

4/ Cách  nói lái: Thường là với mục đích châm chọc, hoặc châm biếm hoặc để phê bình người khác, một tật cố hữu của người Huế. Ví dụ : Tên O nớ là Bách Diệp tức “trăm lá”, trăm lá là tra lắm (tức già lắm) để chê cô gái đã già. Ông chú mà bất xứng thì kêu là “Chú trong họ” tức “chó trong hụ” hoặc ông anh không ra ông anh là “Anh chi mà anh, anh quẻ” tức ẻ quanh , thứ ông anh chưa đủ lớn. Cách thức nói lái của họ nhiều khi đậm màu “thô tục” để vui cười, ví dụ “Mụ Đắc”, “Tôn Lò”, “Cụ Đệ bất kể số chi” v.v..

5/ Cách nói bóng nói gió: Họ thường thích đàm tiếu dị nghị chuyện nhà người ta, với xu hướng dạy đời. Ví dụ: “Chị nớ đang trung hưng” tức “chị ấy đang dấy lên” trong trừơng hợp không chồøng mà cái bụng của chị tự nhiên lớn phình lên v.v.. Có lúc họ nói bóng nói gíó để dạy dỗ con cháu trong nhà: Ví dụ : Cô dâu đơm chén cơm quá đầy thì bị ông gia ”nhận xét” là “Núi Ngự Bình bữa ni cao hơn mọi ngày” hoặc cô dâu dọn mâm cơm ra mà không có chén nước mắm để ăn cho mặn miệng thì bị bà gia “nói khéo” là “Tháng ni người Nam Ổ quên gánh nước mắm ra Huế bán” vì chỉ có lý do bất khả kháng ấy thôi mới không có chén nước mắm dọn ra trên mâm. Cách nói bóng nói gió, nói xa nói gần đó cũng là một tật cố hữu của dân Huế.

 6/ Cách nói lắt léo: Không những nói lái để châm chọc hoặc phê bình người khác mà thôi, người Huế còn hay “nói lắt léo”, “nói cù lần”, “nói ngụy biện” để chữa thẹn, để đánh lạc hướng câu chuyện đang nói không mấy lợi cho họ. Đã say mèm “say tít cung thang” mà cũng còn chối là không say “Tau mô có say, say tình say nghĩa thì có” rồi nói lái qua tình nghĩa ở đời. Cũng vậy, phủ nhận sự can dự của mình vào câu chuyện đó thì  nói liều là “Can chi tau, can vải thì có”, rồi nói qua chuyện can vải tức chuyện nối vải để may áo. Đó cũng là một bản sắc của con người xứ Huế. Ngụy biện biết đâu cũng đã là một khía cạnh dễ thương của các cụ đồ xưa lúc đuối lý hay ngay cả lúc đang say lướt khướt. Cũng là một cách để giữ phẩm giá , giữ bề ngoài của mình với quan niệm quan trọng hoá mình, luôn luôn nghĩ mình là “phương diện quốc gia”.

7/ Cách nói tiếng lóng: Dân Huế cũng có những tiếng lóng thông dụng riêng, cũng biết dùng tiếng lóng trong câu chuyện hàng ngày như mọi nơi khác. Tiếng lóng của họ đựơc dùng với mục đích chế diễu vui cười với nhau mà thôi, không mấy ác ý. Chẳng hạn: “Cá long hội” là “cá lôi họng” tức thứ cá rẻ tiền ăn dễ bị mắc xương phải lôi họng ra lấy.

 8/ Cách nói lạc nghĩa và trệch chữ: Người dân Huế, phần lớn là ở thôn quê, hay có tật nói trật nghĩa, trệch chữ. Ví dụ: họ nói “Anh nớ tánh tình thâm trầm hiểm độc” có nghĩa là họ muốn nói “anh ấy ít nói”. “Trung gian” là “ở giữa” thì họ đôi khi lại dùng như “bên trong” (Trung gian chuyện ni , hai đứùa có sự hiểu lầm mà ra). “Bình tịnh” là yên tĩnh thì họ lại dùng như “bình tĩnh”.  “Cheo leo” là cô đơn” thì họ lại dùng chữ “thèo leo” là đứng không vững (Anh ham đi chơi để em thèo leo một mình ở nhà). “Tương tư” là nhớ nhung thương nhớ thì đôi khi được dùng với nghĩa “khéo léo” như trong câu hò: “Anh têm năm miếng trầu tinh khiết , bỏ vô hộp thiếc, dựng cẩn xa cừ . Anh mướn người mối lái cho tương tư , thế mô chứ thế ni thầy mẹ cũng ừ cho anh”. Thông thường do bản tánh thích nói chữ mà trở thành trệch nghĩa. Thay vì “hùng hổ” là hăng hái thì họ nói thành “hùm hổ” có nghĩa là ác đức hoặc thay vì nói “tội chưa” để an ủi người ta thì lại nói “tội tình chưa”. “Nói huyên thiên” thì họ lại nói “nói huyên thuyên”, một lỗi thông thuờng mà Giáo sư Nguyễn Lân đã nêu lên trong quyển “Từ Điển Từ và Ngữ Việt nam” của mình.

9/ Cách nói kiểu cách: Dân Huế, nhất là ở chốn quan trường, trong các gia đình quan lại, trong các gia đình thể giá thường có các từ ngữ riêng biệt và cách nói riêng biệt. Ví dụ: họ dùng chữ “thời” thay vì chữ “ăn”: (Xin mời anh thời). Họ “thưa gởi” khi nói với các bậc bề trên (“Thưa anh em đã làm rồi”, “Thưa anh em đã hiểu ý anh” v.v.) , họ dùng chữ  “dạy” khi nói đến “lời phán bảo” của các bậc trưởng thượng : (Anh đã dạy thì em xin vâng) . Hai chữ “dạ bẩm” thường ở đầu môi chót lưỡi của họ : (Dạ bẩm em ăn rồi). Lễ phép hơn nữa, đôi khi họ dùng “dạ bẩm thưa” (Dạ bẩm thưa anh , em không dám có ý kiến chi) v.v...Tất cả đều do hai chữ “lể nghĩa“ mà thành .   

10/ Cách nói tránh kỵ húy:  Người Huế thường tránh dùng những chữ có tên của các bậâc trửơng thượng, của các vua chúa thời xưa và thường “nói trệch” chữ đó để tỏ lòng kính trọng. Tên của Bà Cố là “Hồng” thì họ đọc trại lại là“Hường”. Tránh dùng chữ “Hoa” là tên của Bà Hồ Thị Hoa , vợ của Vua Minh Mạng, thì họ dùng chữ “Huê” hoặc chữ “Ba”, và do đó “Hoa Viên” đã trở thành “Huê Viên” hoặc “Ba Viên” trong câu nói của dân gian thường ngày .

11/ Cách  nói trong Nội: Trong Cung Vua , trong Đại Nội, ngôn từ của vua quan, của các phi tần , thái giám cũng khác ở ngoài đời. Đối với vua, người ta dùng nhiều chữ đặc biệt. Ví dụ: Vua ngủ là “Vua ngơi”, Vua đau gọi là “Vua xiết” v.v.. Ngoài ra, các người trong hoàng tộc được kêu là “mấy Mệ”, dùng cho cả đàn ông lẫn đàn bà. Ngoài ra, cũng cần nhắc đến giọng trong Nội” khác giọng ngoài đời.  Đó là giọng lơ lớ pha giọng Nam mà người Huế gọi là “giọng Mỹ Lợi , giọng Phường Đúc”, theo lệnh của Vua Minh Mạng “dạy” phải nói thứ giọng nầy trong Nội cung vì vị Vua nầy đã có thời sinh sống nhiều năm ở vùng đất Nam Bộ. 

IV/Sưu tập tiếng Huế: Sắp xếp tiếng Huế

Với số lượng “tiếng Huế” thu thập được , và để cho dễ tìm , lẽ tất nhiên các từ  , các chữ cần được sắp xếp lại theo vần A B C D v.v.. Và đây là “điểm nóng” trong quá trình hình thành quyển Từ Điển Tiếng Huế .

Trước hết , vì quen lối viết tay và cũng để các chữ ghi được không bị lỡ tay “xóa sổ” do máy vi tính nên chúng tôi đã phải đi qua nhiều giai đoạn lỉnh kỉnh : “enter” các chữ vào máy vi tính rồi cố gắng sắp xếp  theo các vần A B C D v.v..với một thảo chương điện toán tự đặt . Sỡ dĩ như vậy là vì chúng tôi tại Hoa Kỳ thường dùng hệ thống VNI và cho đến bây giờ , VNI cũng chưa có phần mềm để sắp các mục từ theo vần Việt Nam . Thảo chương điện toán mà chúng tôi đã dùng cũng chưa được hoàn hảo nên vẩn còn nhiều lủng củng khi sắp vần. Nhiều chữ đã “nhảy qua nhảy lại lung tung”, tìm cho ra cũng khá mệt. Do đó ,  chắc chắn là những độc giả ưa chuộng sự thuần nhất sẽ không mấy vừa lòng về các lỗi sắp xếp nầy và chúng tôi rất áy náy về vấn đề nầy ..

Ngoài ra, chúng tôi lại còn phải thận trọng sắp xếp các mục từ  cho sát với các nguyên tắc về từ điển học . Theo J. Rey Debove (1971), chúng tôi cũng đã cố gắng sắp các mục từ theo cấu trúc vĩ mô tức sắp các mục từ theo chiều dọc và sắp theo cấu trúc vi mô tức sắp các mục từ theo quan hệ ngang. Hơn thế nữa chúng tôi cũng đã ghi các từ tương đương với từ đầu mục để cho dễ tìm theo lời đề nghị của Nguyễn Ngọc Trân năm 1995  (“Một số vấn đề từ điển học , Hà Nội 1997). Chúng tôi cũng đã ghi các từ đồng âm dị nghĩa với nhau và chúng tôi đã cố gắng ghi những lời giải thích các từ càng súc tích và càng rõ nghĩa càng tốt. Trong nhiều trường hợp , chúng tôi đã cố ý dùng các câu hò , các điệu vè, các ca dao tục ngữ Huế vào mục giải thích cho thêm phần mặn mà .

Nói tóm lại, với quyển Từ Điển Tiếng Huế chúng tôi đã phải tự tđi ìm lối đi , phải tự “sáng tạo” cách thức sắp xếp các chữ từ A đến Z . Chúng tôi đã dành rất nhiều thời giờ cho vấn đề sắp xếp nầy nhưng mãi cho đến bây giờ , chúng tôi cũng vẫn chưa được hoàn toàn mãn nguyện. Đôi khi , chúng tôi đã “ghen” và mong được như các nhà từ điển khác trong nước có cơ duyên được thừa hưởng lối sắp xếp vốn sẵn có của các quyển từ điển ngoại quốc  . 

V/ Sưu tập tiếng Huế: Giải thích các từ Huế

Ngay từ lúc sơ khởi , chúng tôi đã có tham vọng  lồng vào trong quyển Từ Điển mệnh danh là Tiếng Huế nầy các lời giải thích bao quát và súc tích về các từ Huế, với mục đích giới thiệu ngoài tiếng Huế ra, con người xứ Huế , đất Huế và kho tàng lịch sử , văn hoá xứ Huế . Và với các lời giải thích như  vậy, quyển Từ Điển Tiếng Huế nầy sẽ trở thành  một loại từ điển bách khoa. Chúng tôi đã cố gắng trong phạn vi hiểu biết của mình đưa ra những lời giải thích các từ  hoặc dựa vào các tư liệu của nhiều tác giả khác nhau để giải thích . Mỗi tư liệu nêu ra đều được chúng tôi nêu rõ xuất xứ . Điều nầy vưà theo đúng  quy luật tác quyền vừa tạo dịp cho các nhà khảo cứu về sau có cơ hội tìm tòi thêm, đào sâu thêm khi nghiên cứùu tiếâng Huế. Với nhiều tư liệu khác nhau, lẽ tất nhiên sẽ có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Tôn trọng sự khách quan, chúng tôi tuyệt đối không đưa ra ý kiến đúng hay sai như đã có người trách cứ. Chúng tôi cũng đã cố ý không “cố gắng đồng hoá” các lời giải thích cho được sự thống nhất từ đầu quyển đến cuối quyển để tránh nạn “trứơc nói khác sau nói khác”như vài nguời đã đề nghị. Chúng tôi muốn để dành sự  đánh giá đó cho các độc giả và các nhà nghiên cứu trong tương lai . Nếu thảng hoặc chúng tôi biết được rõ ràng ngữ nghiã hay lời giải thích xác đáng, chúng tôi lúc đó mới đưa vào để cùng nhau tham vấn .

Ngoài ra, chắc chắn độc giả đã để ý và nhận thấy là có nhiều mục từ liên quan đến văn hoá Huế đã được chúng tôi trình bày dài dòng và rất kỹ , đi vào chi tiết. Điều nầy do sự cố ý của chúng tôi muốn lưu giữ  sự cá biệt của chúng cho khỏi phôi pha với ngày tháng. Ví dụ: chúng tôi nhận thấy nhiều tục lệ, nhiều lể nghi đã gần như mất dấu nên chúng tôi dành nhiều công sức để nói rõ ra hầu mong sau nầy con cháu chúng ta sẽ có cơ hội làm sống lại các tập tục đó, các lễ nghi đó. Điều nầy cũng được chúng tôi áp dụng vào các địa hạt văn hoá khác, ví dụ văn hóa ẩm thực. Vì thế các món ăn Huế và các “bánh trái” Huế đã được chúng tôi nghiên cứu kỹ càng cách thức làm, cách thức nấu v.v. để khỏi vuột mất dấu xưa , vuột mât bản sắc của Huế. Con cá bống thệ kho khô theo lối Huế phải là “con cá ngó lui” , “đầu quay lại nhìn đuôi” sau khi kho . Tôm rằn kho theo lối Huế phải có cái bong bóng khí dưới lớp vỏ ngoài mới đúng cách , mới đúng điệu. Tô bún bò Huế hồi xưa nà chúng tôi ăn mỗi buổi sớm, ngày nay đã mất dấu, đúng như Trần Kiêm Đoàn đã ghi nhận trong  cuốn biên khảo “Về Huế”. Tô bún bò Huế ngày nay đã trở thành lai căng, mỗi nơi mỗi khác, có nơi thêm miếng chả, có nơi thêm giá sống, có nơi thêm bắp chuối v.v.. Ngay tại Huế,  tô bún bò  mỗi vùng mỗi khác: tô bún bò An Cựu khác tô bún bò Thành Nội v..Và biết đâu sau nầy con cháu người Huế chúng ta sẽ cãi nhau và vấn nạn nhau : Thế nào là tô bún bò Huế thứ thiệt ?

Có lẽ cũng nhờ những lời giải thích của các từ Huế đó mà chúng tôi đãù nhận được vài lời phẩm bình dội lại (feed back) từ nhiều độc giả về quyển Từ Điển Tiếng Huế. Vài vị đã cho biết là họ đã đọc quyển Từ Điển “từ đầu chí cuối” hoặc “đọc rất thích thú như đọc môt quyển truyện” và có người “đã đọc một mạch trong một tuần” hoặc “ đã phải đọc nhin nhín kẻo sợ hết” hoặc “đọc mỗi ngày một tí để kéo dài cho lâu” hoặc “khi đọc xong còn ưng đọc nữa”. Những  điều nầy đã làm cho chúng tôi thỏa nguyện vì mục đích cuối cùng của môt cuốn sách là để đọc và nếu quyển Từ Điển đã được đọc như một quyển truyện thì đó là điều đã đi quá ước mong của chúng tôi.                       

VI/ Sưu tập tiếng Huế: Các vấn đề còn bỏ ngỏ

Với quyển Từ Điển Tiếng Huế in lần thứ hai năm nay 2004 chúng tôi cũng vẫn còn nhiều “bất như ý”:

1/ Vì nhiều lý do, trong lần in thứ hai nầy, quyển Từ Điển Tiếng Huế không có được hình ảnh cho thật nhiều như chúng tôi đã mong ước . Chúng tôi mong rằng trong lần in thứ ba, quyển Từ Điển nầy sẽ có thêm phần giải thích “phi ngôn ngữ” bằng các tranh ảnh và minh họa để có thể giải thích và diễn tả các từ Huế một cách sống động hơn.  

2/  Chúng tôi cũng cảm thấy vẫn còn nhiều tiếng Huế đang rơi rớt ở các nơi, trong hang cùng ngõ hẻm cũa thôn quê Thừa thiên Huế , chưa được chúng ta thu nhặt và cất vào “kho tàng tiếng Huế”. Điều nầy đòi hỏi nhiều công sức thu lượm , sục sạo tìm tòi . Thời gian càng trôi qua thì  số người Huế xử dụng các từ đó càng ngày càng ít đi cũng như các tư liệu liên quan đến các từ đó sẽ biến dần với trí nhớ của con người. Và như vậy “tiếng Huế” của ông bà chúng ta sẽ càng ngày càng mất dấu. Chúng tôi mong rằng mỗi người chúng ta sẽ góp một tay vào để xây dựng lại gia tài tiếng Mẹ , sẽ làm cho quyển Từ Điển Tiếng Huế càng ngày càng phong phú hơn đểû lưu lại cho hậu thế, cho các con người xứ Huế trong tương lai để họ có thể tìm hiểu biết thêm về ông bà của họ, về xứ Huế xưa và về văn hóa Huế xưa .

VII/ Sưu tập tiếng Huế: Xứ Huế, con người Huế và Văn hóa Huế

Trong khi nghiên cứu tiếng Huế và hình thành quyển Từ Điển Tiếng Huế , chúng tôi đã phát hiện được thêm là đằng sau các từ Huế, chúng ta có thể nhìn thấy được lối suy nghĩ của người Huế , gợi ý cho chúng ta những nét lịch sử và văn hóa của nguười dân Huế trong quá khứ cũng như trong hiện tại . Đúng như lời của giáo sư Cao Xuân Hạo đã nói: “Giữa tiếng nói của một dân tộc và nền văn hóa của dân tộc ấy chắc chắn phải có một mối quan hệ nhất định”. Chúng tôi cũng đã phát hiện được đằng sau ngôn từ xứ Huế , người ta có thể tìm thấy được hình ảnh của người dân Huế, có thể tìm thấy được lối suy nghĩ của họ cũng như có thể cảm nhận được tâm tư và triết lý sống của họ.  Chúng tôi đã rất thích thú với các điều đã nhận xét được về bản sắc của con người xứ Huế qua tiếng nói của họ và chúng tôi xin chia xẻ những điều cảm  nhận đó với qúy vị ngày hôm nay .

(Diễn đàn Khoa học: Tiếng Huế - Con người Huế và Văn hóa Huế, Huế, 14/6/2004)

California Ngày 1 tháng 6 năm 2004,

Bùi Minh Đức

 
 
Các bài Bùi Minh Đức khác