GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY KHO TÀNG CA NHẠC TRUYỀN THỐNG HUẾ
Bài báo này được viết cách đây 36 (1982-12018), nhắc lại việc "GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY KHO TÀNG CA NHẠC TRUYỀN THỐNG HUẾ". Một kỷ niệm đáng nhớ của NNC Nguyễn Đắc Xuân.

Giọng nói của người Huế là cơ sở chủ yếu tạo ra kho tàng điệu lý và hò vô cùng phong phú cho địa phương này. Theo thống kê bước đầu ở Huế và các vùng nông thôn Bình Trị Thiên có đến 50 điệu hò và cũng có con số điệu lý xấp xỉ như thế. Nhiều người cho rằng Bình Trị Thiên - Huế là một trong những địa phương giàu về lý và hò nhất nước Việt Nam.

Huế lại ở vào vị trí trung độ của bán đảo Ấn Trung, tiếp nhận được những làn điệu âm nhạc ở phía bắc xuống và cả ở phía nam. Hai nguồn ảnh hưởng đó đã giúp giọng nói Huế hình thành ở đây một kho tàng ca Huế rất độc đáo.

Huế lại là thủ phủ của đàng trong (từ năm 1687) rồi trở thành kinh đô (1788) của cả Việt Nam thống nhất từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau (từ thời Quang Trung đến Cách mạng Tháng Tám 1945). Chính cái vị trí đầu não ấy để lại một gia tài ca nhạc cung đình đáng kể.

Huế không những đã từng là kinh đô của cả nước. Huế còn là một trung tâm Phật Giáo lớn của Việt Nam. Số lượng chùa Phật ở Huế khá lớn. Nhiều chùa có tuổi tu lớn hơn tuổi của thành phố. Chùa Linh Mụ ra đời từ đầu thế kỉ 17 (1601). Những sinh hoạt tu hành của Phật giáo ở Huế có một phong cách riêng. Trong các lễ lược, Phật giáo ở Huế có lối tụng tán giàu tiết điệu làm cho các nhà nghiên cứu âm nhạc Đông Tây chú ý. Và người ta thường gọi tất cả những làn điệu âm nhạc dùng trong các chùa ở Huế là nhạc thiền.

Kho tàng hò, lý, ca Huế, ca nhạc cung đình, nhạc thiền đã tạo cho Huế một nền ca nhạc truyền thống vô cùng phong phú. Việt Nam đã nổi tiếng với những vùng hát quan họ ở Bắc Ninh, hát ghẹo ở Vĩnh Phú, hát ả đào, hát nói ở miền bắc, hát phường vải ở Nghệ Tĩnh, hát cải lương ở miền nam, v.v. Những tiếng hát này thể hiện tình cảm của dân chúng một vùng, một nghề, một lứa tuổi. Nhưng ca nhạc Huế có đủ khả năng thỏa mãn các lứa tuổi, tầng lớp, cho tròn tuổi sống của con người. Người ta thường dẫn chứng: lúc mới ra đời, đứa bé nằm trên tay mẹ, nghe à ơi tiếng mẹ hò ru con. Lúc lớn lên biết lao động, làm việc gì thì có hò hát của việc ấy đi theo. Chèo thuyền trên sông có hò mái nhì, hò mái đẩy, hò mái ba,…; đạp nước vào đồng có hò ô… Đến khi tới tuổi yêu đương có hò giã gạo. Có cả kho tàng lý với những điệu nổi tiếng: lý con sáo, lý tình tang, v.v. Đến ngày chết, trên đường ra nghĩa địa có hò đưa linh. Lúc nằm xuống huyệt, bên tiếng khóc xót thương của người thân, có tiếng hò nện (để nén chặt nấm mồ).

Trong quá khứ, ca nhạc Huế thỏa mãn tất cả các tầng lớp. Những người dân quê chân lấm tay bùn có tiếng hát của mình là hàng chục điệu hò, điệu lý, điệu vè. Những tầng lớp trên có chút tri thức sống ở đất kinh đô, được giải trí với những làn điệu khách (tức bắc) mạnh mẽ, vui tươi và những làn điệu nam thánh thót, u uẩn, nhẹ nhàng. Vua chúa sống trong cung cấm có ca nhạc cung đình và hát bội. Để tưởng nhớ người đã khuất có kho tàng nhạc lễ, nhạc thiền độc đáo.

Nhờ tính xã hội rộng rãi và bao trùm như thế, người ta có thể nói nền ca nhạc truyền thống Huế có đủ khả năng diễn đạt các thứ tình, hỉ, lạc, ái, ố của con người. Căn cứ vào khả năng này, nhiều nhà viết kịch bản ca kịch Việt Nam đã vận dụng các làn điệu của nó đưa lên sân khấu và bước đầu đã đạt được kết quả phấn khởi.

Mảnh đất Bình Trị Thiên có thành phố Huế xinh đẹp là nơi đã bao lần bị kẻ thù phong kiến, đế quốc chia cắt. Nhưng cũng chính nơi đây, đất nước đã không ngừng đấu tranh để thống nhất. Ngày nay trên đất Huế còn nhiều biểu hiện của sự thống nhất đó. Nền ca nhạc truyền thống Huế là một trong những biểu hiện đáng quý này. Hát chầu văn trong ca nhạc Huế mang chính quán tại miền bắc. Lý qua đèo hay lý hoài nam gốc của Chiêm Thành…

Huế đã hút vào những nhụy ngọt của bốn phương để luyện thành mật ngọt mang giọng điệu của chính mình. Đồng thời Huế cũng tỏa ra, nhất là về phía nam, biết bao làn điệu ngọt dịu. Ai cũng phải nhận rằng nền ca nhạc Huế có bản sắc của một dân tộc phương nam rất rõ. Có lẽ vì thế vua Quang Trung đã dùng “mười bài nhạc phủ ca khúc phương nam” để đi xứ chăng? Và cũng có lẽ vì thế mà cách đây không lâu tổ chức UNESCO in cho Việt Nam một đĩa hát mang tên “Việt Nam 1” đã không ngại dùng đến mười bài của ca nhạc truyền thống Huế. Nền ca nhạc truyền thống Huế có bản lĩnh thật sự, có sức sống bền lâu. Nền ca nhạc hiện đại Việt Nam đã có biết bao bài ca, điệu nhạc phát triển từ các mô-típ rút trong kho tàng ca nhạc truyền thống Huế. Khi soạn các bản giao hưởng lớn như “Ngũ hành số 2” (được giải quốc tế do UNESCO tổ chức năm 1975) “Kiêm Ái” (1978), nhạc sĩ Tôn Thất Tiết đã vận dụng nhiều tiết điệu trong ca nhạc truyền thống Huế, nhất là ca nhạc cung đình.

Nghệ nhân Huế

Một truyền thống ca nhạc phong phú như thế, nhưng trước đây chung số phận với ca nhạc truyền thống Việt Nam bị chế độ phong kiến liệt vào “xướng ca vô loài” không một chút quý trọng. Đến lúc đất nước bị thực dân Pháp đô hộ rồi Mỹ chiếm đóng, ca nhạc Huế chỉ còn sống ngắc ngoải với những nghệ nhân già và một số người “hoài cổ”. Từ ngày giải phóng đến nay, truyền thống ca nhạc Huế đã được đề cao đúng mức và đang được phục hồi từng bước. Nhà nước đã có những chủ trương đúng đắn trong việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy truyền thống ca nhạc Huế. Song biện pháp và người thực hiện (phần lớn chỉ giỏi về nhạc hiện đại) chưa thích hợp. Trường nhạc ở Huế đã cho về nghỉ một số nghệ nhân còn phục vụ tốt. Nhiều nghệ nhân bỏ nghề hoặc rời đất Huế đi làm ăn ở nơi khác.

Đứng trước tình hình đó, chúng tôi đề nghị:

- Nên khuyến khích thành lập một ban ca nhạc Huế quy tụ tất cả những người chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp để gìn giữ và phát huy truyền thống ca nhạc Huế;

- Thu băng, thu đĩa, ghi chép lời ca, tiếng hát, điệu múa cùng những suy nghĩ cá nhân của từng nghệ sĩ để lưu trữ nghiên cứu;

- Thành lập một bảo tàng ca nhạc Huế tại Huế;

- “Khoán” cho các nghệ nhân tìm học trò và truyền nghề góp phần đào tạo lớp nghệ nhân trẻ cho tương lai;

- Tổ chức ở Huế một phân viện nghiên cứu âm nhạc truyền thống;

- Trường Âm nhạc Huế của Bộ Văn hóa hiện nay nên đẩy mạnh hơn nữa việc đào tạo cán bộ làm công tác âm  nhạc truyền thống

Nếu những biện pháp thích hợp để giữ gìn di sản văn hóa không được quan tâm ngay từ bây giờ, thì sự mai một những giá trị của nó là lẽ đương nhiên.

                                              Nguyễn Đắc Xuân

[Nguồn: Báo Nhân Dân, Chủ nhật ngày 13-6-1982, số 10219]

 
 
Các bài Dư luận báo chí khác
Các bài Phóng sự - Bút ký
Các bài Giữ hồn cho Huế