01/10/2012

Vì “khát vọng thống nhất Việt Nam” - tôi yêu nhạc sĩ Phạm Duy

Tôi đã biết thích nhạc Phạm Duy từ những ngày thơ ấu ở Đà Lạt. Mang trong lòng nỗi nhớ Huế, tôi vừa đi chặt củi hay hái nấm trong rừng vừa nghêu ngao hát.

Về miền Trung ! Miền thùy dương bóng dừa ngàn thông
Thuyền ngược xuôi suốt một dòng sông... dài
Ôi quê hương xứ dân gầy
Ôi bông lúa, con sông xưa, thành phố cũ
Về miền Trung ! Người về đây sống cùng người dân
Lửa chinh chiến cháy bừng thôn làng điêu tàn
Đêm hôm nao gió u buồn trên sông vắng
Có tiếng hát xao xuyến ánh trăng vàng.

Tôi thích bài hát nầy vì nội dung của nó phản ảnh tình hình quê tôi (khoảng 1951-1953) đang đắm chìm trong chiến tranh, hơn nữa, âm điệu của bài hát vận dụng từ những điệu hò điệu lý ở quê tôi mà mẹ tôi đã hát ru tôi suốt những năm tháng mẹ con tôi lưu lạc trên Cao nguyên. Sau đó tôi may mắn tìm được bên nội đang sống ở Đà Nẵng, tôi về bên nội rồi được đi học nhạc với nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ. Thầy Mỹ dạy cho tôi cái hay, cái đẹp, cái giá trị vô giá của bài hát Tình Ca yêu nước của Phạm Duy vừa ra đời trước đó vài năm. Yêu nước là yêu tiếng nói, yêu đất nước từ Bắc vô Nam, yêu người trong lịch sử, yêu người trong hiện tại và yêu người trong tương lai. Yêu một cách cụ thể. Yêu nước chưa đủ, mà còn phải yêu nòi: “Vì yêu, yêu nước, yêu nòi Ngày Xuân tôi hát nên bài (ư bài) tình ca.” Tôi không ngờ cái thông điệp “yêu nước, yêu nòi” của bài hát Tình Ca ảnh hưởng suốt cả cuộc đời còn lại của tôi sau nầy.

Tôi sớm biết yêu nhạc Phạm Duy, nhưng cho mãi đến đầu năm 1964, sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, tôi mới được gặp tác giả ở Trụ sở Tổng hội Sinh viên (đặt trong khuôn viên Đại học Huế - cơ sở của Nhà hàng khách sạn Morin cũ) trong buổi giới thiệu Trường ca Con Đường Cái Quan. Phạm Duy trực tiếp giới thiệu tác phẩm, phần ca nhạc minh họa qua băng ghi âm – máy magnétophone - hiệu AKAI hiện đại nhất của Nhật lúc ấy, do một ban hợp ca gồm các danh ca Thái Thanh, Thái Hằng, Duy Khánh và nhiều người nữa trình bày mà đến nay tôi không còn nhớ hết.

Về nội dung – như nhạc sĩ Phạm Duy hay nhắc đến sau nầy là chuyện “Một lữ khách đi trên con đường xuyên Việt, đi từ Ải Nam Quan cho đến mũi Cà Mâu, đi từ ngày mới lập quốc cho tới khi đã hoàn thành xứ sở, đi trong lịch sử và lòng dân, đi tới đâu cũng có tiếng dân chúng địa phương ca hát chúc tụng lữ khách đi nối liền được lòng người và đất nước

Về âm nhạc, lữ khách đi đến đâu được ông phát triển dân ca ở vùng đó mô tả bước đi của lữ khách. Lữ khách đi trên đất Bắc thì núi rừng hiểm trở, đến miền Trung nghe không khí Nhã nhạc Cung đình, có cả tiếng chuông chùa, vào miền Nam thì  “nhạc nắng, nhạc gió, nhạc sông nước” mênh mông.

Tôi không sành về âm nhạc. Nghe nhạc, tôi cảm được cái hay nhưng không diễn tả được cái hay, cái cảm xúc, cái kỹ thuật tạo nên cái hay đó như thế nào. Nhưng vốn học văn, học sử nên tôi rất quan tâm đến phần nội dung của lời ca. Phạm Duy cho biết, năm 1954, ông đang du học bên Pháp, nghe tin Pháp thất trận ở Điện Biên Phủ, là một người đã sống dưới thời thực dân Pháp, đã tham gia kháng chiến chống Pháp, nên ông rất sung sướng tự hào. Nhưng đồng thời, theo dõi tiến trình hội nghị Genève qua báo chí bên Pháp, thấy hai phe của chiến tranh lạnh có ý chia hai nước Việt Nam, với cảm quan của một nghệ sĩ ông rất đau buồn. Sau khi Hiệp Định Genève 1954 được ký kết, nước Việt Nam bị chia hai thật sự ở Vĩ tuyến 17, tự nhiên khát vọng thống nhất đất nước dậy lên trong lòng ông. Không thể thể hiện khát vọng ấy trong một ca khúc nên ông đã ngày đêm sáng tác nên một tổ khúc mà sau khi hoàn thành ông đặt tên là Trường ca Con Đường Cái Quan. “Đây là một hành ca ghi lại bước tiến của dân tộc ta trên một sinh lộ nhất quyết không chịu chia cắt”.

 Đầu năm 1964, trong đầu óc một sinh viên theo đạo Phật của tôi mới chỉ nghĩ đến hạnh phúc chống được độc tài nhà Ngô Đình, rồi bắt đầu phấn đấu góp phần xây dựng chế độ “tự trị Đại học” chứ chưa có ý tưởng gì khác. Sau đêm nghe giới thiệu Trường ca Con Đường Cái Quan trong sân trường Đại học, nhạc sĩ Phạm Duy đã gieo vào tâm trí tôi đóm lửa “đất nước đang bị chia cắt”. Rồi cái đóm lửa ấy sáng dần lên trong tôi và tôi cũng dần dần trở thành người bạn nhỏ của nhạc sĩ Phạm Duy. Không những tôi được ông chia sẻ những ưu tư về tình hình “hết đảo chính nầy qua đảo chính khác” ở Sài Gòn (cũ), về chiến tranh ngày càng leo thang, mà còn được ông phổ nhạc một số bài thơ chống chiến tranh của tôi. Tôi chống chiến tranh với tâm thức của một người theo đạo Phật chứ không phải của một người ở bên nầy hay ở bên kia cuộc chiến. Ngày 20-7-1965, tôi và một số Sinh viên Huế được chính phủ của ông Nguyễn Cao Kỳ mời vào Sài Gòn tham dự hội thảo “Bắc Tiến”. Tôi không đi thì mang tiếng “hèn” mà đi thì chưa chắc còn có đường về. Biết thế nhưng tôi vẫn đi. Tôi cũng biết thế nào rồi tôi cũng bị mời lên diễn đàn phát biểu. Nếu tôi chấp nhận “Bắc tiến” thì tôi đã tự hủy con đường chống chiến tranh của người Phật tử trong tôi, nếu tôi chống lại thì chắc tôi không còn cơ hội bước ra khỏi hội trường lúc ấy (tức Nhà hát Thành phố ngày nay). Thay vì phát biểu tôi làm một bài thơ mang tựa đề Nhân Danh. Tôi cho rằng người lính “quốc gia” không có một mục đích cao cả nào để chiến đấu cả mà chỉ nhân danh vì cá nhân, vì gia đình, vì họ hàng .v.v.mà nổ súng giết người, cuối cùng nhân danh “đường lối hòa bình” bịp bợm của Tổng thống Johnson[1] , mình tự giết mình luôn: “Vì đường lối hòa bình tôi giết tôi luôn”. Một cuộc chiến tranh phi lý. Cái nút của bài thơ ở câu cuối cùng. Nghe tôi đọc bài thơ có người hiểu nhưng cũng có nhiều người không nghe câu chót nên không quan tâm. Đọc xong bài thơ tôi tìm cách ra cửa sau chạy về trốn trong nhà một ông Bộ trưởng theo Đạo Phật lúc ấy. Nhạc sĩ Phạm Duy rất thích bài Nhân Danh. Ông phổ nhạc đúng theo lời thơ của tôi. Nhưng ở lời thứ hai ông sửa chữ “giết” thành chữ “cứu”. Bài Nhân Danh được in ngay trên tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ của thầy Thích Nhất Hạnh. Biết tôi không bằng lòng chuyện ông đổi chữ “giết” thành chữ "cứu” trong lời thứ hai, ông bảo :“Thương nước phải thương nòi chứ? Sao lại cứ giết, em là Phật tử kia mà !”.

 Nhạc phẩm Nhân Danh, Tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ,số 5, 11-1965

Qua sự việc ấy, tôi ngộ ra: “Mình đấu tranh cho hòa bình mà ngôn ngữ thì lại sặc mùi chiến tranh”. Ngôn ngữ trong hai bài Chuyện Hai Người LínhĐể Lại Cho Em (tức Tâm Ca số 5 trong tập nhạc Mười bài Tâm Ca của Phạm Duy do Lá Bối xuất bản hồi cuối năm 1965) đúng với nội dung vận động cho hòa bình hơn. Nhất là trong các Điệp khúc trong Tâm Ca số 5:

Nhưng em thương anh thương anh cho súng phải thở dài,

Nhưng em thương anh thương anh cho tàu bay khóc với

Nhưng em thương anh thương anh cho lựu đạn im tiếng

Nhưng em thương anh thương anh cho đường vũ khí qua tim

Hoặc:

Nhưng em thương anh thương anh em đón nhận gia tài,

Nhưng em thương anh thương anh ta cùng gom sức mới

Nhưng em thương anh thương anh xin nhận lời tranh đấu

Nhưng em thương anh thương anh đi tìm lối thoát cho nhau

Nghe Tâm Ca số 5 (Để Lại Cho Em) của Phạm Duy và Nguyễn Đắc Xuân, Thiền sư Thích Nhất Hạnh rất xúc động và viết ngay cuốn Nói Với Tuổi Hai Mươi và được đông đảo tuổi trẻ lúc ấy tiếp nhận. Tôi rất hạnh phúc được thấy tên mình ghi trong nhạc phẩm thời danh Mười Bài Tâm Ca sau tên nhạc sĩ Phạm Duy và Thiền sư Thi sĩ Nhất Hạnh.

 

Đoạn mở đầu Tâm Ca số 5  (Để Lại Cho Em) của Phạm Duy & Nguyễn Đắc Xuân

Trong các cuộc xuống đường, mít-tin, hội thảo mùa hè 1966, đi đâu tôi cũng nghe hát Để Lại Cho Em. Đặc biệt trong Tâm Ca số 7, Phạm Duy trích một câu thơ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong tập Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện, “Kẻ thù ta đâu có phải là người, dù là người Việt Cộng, giết người đi thì ta ở với ai?”, ông cắt bớt mấy từ “dù là người Việt Cộng” rồi phát triển thành lời Tâm Ca số 7 “Kẻ Thù Ta”. Đây là một bài hát được quần chúng sử dụng tỏ rõ quan điểm “chống lại chiến tranh hủy diệt” của Mỹ đang tiến hành ở Việt Nam. Ở Huế lúc ấy, từ trẻ con cho đến các cụ già không ai không biết hát bài hát ấy. Thế mà có một trí thức xa-lông, cả đời chưa bao giờ nói quá, viết quá một điều gì trái ý chính quyền Sài Gòn, cho rằng “Tâm ca làm mê hoặc tuổi trẻ, quên đi cái tư tưởng dẫn tới một cuộc tranh đấu chính trị”. Ông đâu biết tháng 5-1966, Sinh viên Huế (trong đó có nhạc sĩ Hoàng Thi Thao) đi biểu tình ở Quảng Tín (Tam Kỳ) hát Tâm ca số 5 (Để Lại co Em) và Tâm Ca số 7 (Kẻ Thù Ta) trước mũi súng của quân đội Thiệu Kỳ. Sinh viên học sinh tuyệt thực, mít-tin, biểu tình trong tiếng hát Tâm Ca để tỏ thái độ chống cuộc chiến tranh hủy diệt mà quân đội Mỹ đang tiến hành ở Việt Nam. Chính trị của chúng tôi là như thế. Phong trào đô thị ở miền Nam VN cũng như ở các nước Tây phương khác cũng chỉ thực hiện đến như thế. Chúng tôi biết khát vọng chấm dứt chiến tranh của tuổi trẻ chúng tôi không lay chuyển được âm mưu leo thang chiến tranh của Hoa Kỳ, nhưng chúng tôi không thể ngồi im. Nhạc sĩ Phạm Duy không xuống đường với chúng tôi, nhưng ông đã cung cấp cho chúng tôi “vũ khi tinh thần” để chúng tôi vững bước đương đầu với bạo lực. Khi Phong trào bị dìm trong máu lửa, tiếng hát Tâm Ca hoàn thành vai trò lịch sử của nó. Phong trào hát Tâm Ca tồn tại không lâu (1965-1966), nhưng nó đã mở đầu cho Phong trào sáng tác và hát nhạc phản chiến sau đó mà người đứng đầu là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Các vị trí thức xa-lông không thấy vai trò lịch sử của Tâm Ca, họ “chê” Tâm Ca, thực tình là họ “chê” để che giấu sự ghen tỵ với Phạm Duy mà thôi.

Cùng với NS Phạm Duy, cuối năm 1965

Sau Tâm Ca, Phạm Duy soạn một loạt sáng tác mới lấy tên chung là Tâm Phẫn Ca. Phạm Duy mượn bài thơ Bi Hài Kịch của Thái Luân (một sĩ quan trong quân đội VNCH), nói người lính đang cầm súng ngoài mặt trận là một “diễn viên” bắn giết theo lệnh của một đạo diễn. Ông cũng mượn bài thơ Nhân Danh của Tâm Hằng (Pháp danh và cũng là một bút danh của Nguyễn Đắc Xuân) nói lên sự thực người lính nhân danh một mục đích nào đó để bóp cò súng giết người và cuối cùng tự giết mình luôn chứ không có một lý tưởng cao cả có thật nào khác. Phạm Duy sống ở miền Nam nhưng tâm hồn ông, ý thức của ông không có Nam hay Bắc, ông luôn tư duy ông là người của nước Việt. Do đó ông không đồng tình với cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc. Ông đã mượn bài thơ Chuyện Hai Người Lính của tôi để nói lên chuyện nồi da xáo thịt, anh em chém giết lẫn nhau. Ông không đưa ra được một giải pháp chính trị, nhưng ông nêu lên vấn đề giải quyết chiến tranh bằng tinh thần tự hào dân tộc Việt với sự bao dung, hòa hợp. Ý tưởng đó ông thể hiện trong Trường ca Mẹ Việt Nam, như ông đã viết: “tình thương yêu và tính hiếu hoà, tính tình này đã sinh tồn mạnh mẽ trên đất ta và phải được truyền đi trong thế giới tàn nhẫn hiện tại” và được cô đặc lại trong ca khúc cuối cùng Việt Nam Việt Nam.  

”Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời
Việt Nam hai câu nói bên vành nôi
Việt Nam nước tôi.

Việt Nam Việt Nam tên gọi là người
Việt Nam hai câu nói sau cùng khi lìa đời
Việt Nam đây miền xinh tươi
Việt Nam đem vào sông núi
Tự do công bình bác ái muôn đời

Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu
Việt Nam trên đường tương lai,
Lửa thiêng soi toàn thế giới
Việt Nam ta nguyện tranh đấu cho đời

Tình yêu đây là khí giới,
Tình thương đem về muôn nơi
Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người
Việt Nam! Việt Nam!
Việt Nam quê hương đất nước sáng ngời
Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam muôn đời”

Từ năm ấy (khoảng 1965-1966) cho đến bây giờ (2012) tôi chưa hề được đọc một bài thơ hay nghe được một bài nhạc nào xưng tụng dân tộc và đất nước Việt Nam một cách hùng hồn, sâu sắc, nhân ái và được người dân hoan nghinh như bài hát Việt Nam Việt Nam của nhạc sĩ Phạm Duy. Đây là một thông điệp của người Việt Nam từ lúc “vào đời” cho đên “khi lìa đời”. Việt Nam là một “miền xinh tươi”, dân tộc Việt Nam “không đòi xương máu” mà lấy “Tình yêu” làm “khí giới“ đấu tranh “kêu gọi thương nhau”, lấy “Tình thương đem về muôn nơi”  để “đem vào sông núi Tự do công bình bác ái muôn đời”. thực hiện ước vọng “xây đắp yên vui dài lâu”. Ông tin tưởng “Việt Nam trên đường tương lai”, sẽ là ngọn “Lửa thiêng soi toàn thế giới.”

 Nếu lúc đó (1966), nước Mỹ thấy được khát vọng yêu thương của dân tộc Việt Nam như thế mà xuống thang chiến tranh và tìm cho Việt Nam một giải pháp hòa bình thì đời đời dân tộc Việt Nam còn ghi ơn Hoa Kỳ, đẹp đẽ biết chừng nào! Nhưng tiếc thay, đáp lại khát vọng hòa bình của dân tộc Việt, Tống thống Mỹ Johnson thực hiện chính sách tăng quân vào Việt Nam, leo thang chiến tranh một cách ác liệt nhất. Phong trào đấu tranh đô thị đòi hòa bình Việt Nam bị dìm trong biển lửa, Thiền sư Thích Nhất Hạnh “Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện” không xong phải ra nước ngoài, nhạc sĩ Phạm Duy không thực hiện được ý tưởng “kêu gọi thương nhau” bị hụt hẫng, ông phẫn nộ và mất hướng. Những sinh viên đấu tranh cho hòa bình như tôi bị đe dọa tánh mạng, buột lòng phải tìm một chỗ an toàn ở phía trước mũi súng của Mỹ và chính quyền tay sai ở Sài Gòn. Từ đó hoàn cảnh không cho phép tôi còn gần nhạc sĩ Phạm Duy nữa.

Chín năm sau (1966-1975), sau nhiều lần suýt chết, tôi may mắn, được bình yên trở về với hạnh phúc đứng trong hàng ngũ lực lượng cách mạng thống nhất đất nước, chấm dứt 90 năm mất nước vào tay thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1885-1975).  

Sau ngày 30-4-1975, nhà thơ Tố Hữu - trong cuộc gặp một số anh chị em sinh viên học sinh đã tham gia các Phong trào đấu tranh ở các đô thị miền Nam tại nhà riêng của ông trên đường Phan Đình Phùng (Hà Nội), ông bảo riêng tôi:

-“Đất nước thống nhất rồi, Xuân vào Sài Gòn nói với các anh Phạm Duy, Trịnh Công Sơn hãy cứ ở đó chứ đừng đi đâu cả. Anh Phạm Duy tiếp tục sáng tác đi. Lấy khúc đầu (kháng chiến) nối với khúc đuôi (hoà bình), để khúc giữa qua một bên!”    

 Tôi không ngờ một ông Ủy viên Bộ chính trị phụ trách lãnh đạo văn hóa tư tưởng của cả cuộc Cách mạng Việt Nam mà biết rõ mối quan hệ của tôi với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và nhạc sĩ Phạm Duy như vậy. Tôi hân hạnh nhận lời. Sau đó tôi vào Sài Gòn thì được biết nhạc sĩ Phạm Duy đã đi rồi, còn Trịnh Công Sơn đã được mời hát Nối vòng tay lớn ngay khi Thành phố Sài Gòn vừa được giải phóng. Không còn cần phải truyền đạt lại ý kiến của ông Tố Hữu với Trịnh Công Sơn nữa. Cho mãi đến cuối năm 1996, sang Paris, tôi lưu trú trong nhà một bác sĩ người Huế - bạn vong niên của tôi và cũng là người từng quen biết nhạc sĩ Phạm Duy. Ông bạn bác sĩ làm cầu nối cho tôi được gặp nhạc sĩ Phạm Duy nhiều lần qua điện thoại viễn liên. Trong một cuộc trao đổi thân mật qua điện thoại, tôi hỏi thật nhạc sĩ Phạm Duy:

- Có bao giờ anh nghĩ anh có lỗi với công cuộc giải phóng đất nước không?

Nhạc sĩ Phạm Duy đáp ngay:

- Có chứ ! Anh đã trả lời phóng viên một tờ báo lớn ở trong nước như thế rồi. Anh sẽ có những cống hiến để chuộc lại cái lỗi ấy! 

- Cống hiến gì “ – Tôi vặn hỏi.

- Rồi em sẽ biết – Phạm Duy nói tiêp – Anh đang cho Duy Cường – con trai của anh - về nước, sưu tập tất cả các ca khúc, không phân biệt Nam Bắc, không kể sáng tác theo đơn đặt hàng hay theo cảm xúc cá nhân, miễn là hay là được. Gia đình anh sẽ hòa âm phối khi trình bày rồi đưa lên Net cho thế giới biết nền âm nhạc vô cùng phong phú của dân tộc Việt Nam! 

Tôi hỏi tiếp:

 - Thế anh có dự định xin nhà nước Việt Nam về thăm quê nhà không?

Nhạc sĩ Phạm Duy trả lời một cách dứt khoát:

- Có chứ! “Hẹn em năm hai ngàn”. 

Tôi không ngờ nhạc sĩ Phạm Duy đã có một bước chuẩn bị về nước rất cụ thể như thế.

Đến đúng năm 2000, ông được về thăm quê hương, thăm bạn bè ở hai miền đất nước. Tôi được thăm ông ở Khách san Continental TP Hồ Chí Minh. Ông rất vui vẻ hạnh phúc báo cho tôi biết ông đã đi thăm Ủy ban Mặt trận Tổ quốc VN, thăm nhà thơ Tố Hữu, thăm Bộ trưởng Trần Hoàn, thăm GS Trần Văn Giàu, thăm ông Trần Bạch Đằng, thăm nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, thăm nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, đi ăn cơm với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, ăn cơm ở nhà riêng ca sĩ Ánh Tuyết.v.v. Tôi rất ngạc nhiên khi nghe ông nói về những người ông vừa gặp, không có một chút nghi ngại gì và những người ấy cũng không thể hiện một điều gì làm cho ông phải suy nghĩ cả. Tôi có cảm tưởng ông như một người đi xa về chứ không phải từ hai chiến tuyến máu lửa nửa thế kỷ vừa qua. Tôi mừng niềm tin về ông trong tôi là đúng đắn.  

NS Phạm Duy thăm nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường ở Huế (2005). Ảnh NĐX

Năm 2001 nhân Hội thảo Bản sắc dân tộc trong văn hoá văn nghệ do Trung tâm Nghiên cứu Quốc học tổ chức tại Hội trường Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh, ông Tố Hữu chủ trì hội thảo cùng với thầy Trần Văn Giàu, nhà văn Nguyễn Đình Thi, nhà thơ Huy Cận, nhà thơ Viễn Phương, Tiến sĩ Thu Trang và Giáo sư Tiến sĩ Mai Quốc Liên. Trong giờ giải lao tôi gặp lại ông bà Tố Hữu – Vũ Thị Thanh. Tiện thể tôi nhắc đến chuyện nhạc sĩ Phạm Duy, ông Tố Hữu nhấp nháy đôi mắt, miệng cười vui vẻ:

-“À hả! Năm ngoái Phạm Duy về Hà Nội có đến thăm mình. Nếu Phạm Duy có về lại thì anh em nên tạo điều kiện cho anh ta thâm nhập thực tế để sáng tác tiếp. Phạm Duy là một người rất có tài. Còn chuyện thời gian anh ta ở miền Nam có làm việc nầy việc nọ thì cũng dễ hiểu thôi, anh ta cũng phải làm để sống và nuôi vợ con chứ!”

Ý kiến của người từng lãnh đạo cao nhất về văn hóa tư tưởng của Cách mạng rõ ràng như thế nên sau nầy tôi rất vững tâm trao đổi với bạn bè tạo mọi điều kiện để nhạc sĩ Phạm Duy hội nhập với xã hội mới, tiếp tục con đường sáng tác của nhạc sĩ.

Từ ấy, năm nào nhạc sĩ Phạm Duy cũng về thăm VN, nhiều lần tôi được đón ông ở Huế, nghe ông say sưa nói chuyện minh họa truyện Kiều của Nguyễn Du. Qua nhiều lần về VN, ông tìm hiểu tinh thần của Nghị quyết 36 của chính quyền VN, ông tin tưởng vào đường lối đổi mới xóa bỏ hận thù của VN, ông ủng hộ công cuộc phát triển đất nước với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh. Đến năm 2005 ông xin về ở hẵn tại VN và được chấp nhận. Ngày ông ra đi không có một tác động gì đối với thời sự sau ngày thống nhất đất nước. Nhưng ngày ông trở về là một đóng góp có nhiều ý nghĩa đói với sự thành công cua Nghị quyết 36. Ông được cấp Chứng minh nhân dân, được có hộ khẩu riêng giống như bất cứ người dân nào của nước Việt Nam. Ông thong dong ra Bắc, vào Nam, gặp gỡ báo chí, viết báo, xuất hiện đều đều trên những sân khấu ca nhạc lớn trên cả ba miền Bắc Trung Nam.  Tôi viết cuón sách nhỏ “Mừng ngày trở về của nhạc sĩ Phạm Duy” (do Nxb Thuận Hóa ấn hành năm 2005) để mừng ông.   

Đến trung tuần tháng 7-2005, nhạc sĩ Phạm Duy ra thăm Huế và tôi mời ông về ở lại nhà tôi. Một buổi sáng ông dậy rất sớm, bật đèn sáng choang và mở hết các cửa. Nghe tiếng động tôi thức dậy thấy ông mặc bộ đồ lam cổ kiềng giống như một nông dân đang ngồi bệt dưới sàng nhà, duỗi thẳng hai chân ra ngoài hiên như để đón gió sông Hương ban sớm, tay ông cầm tập tư liệu viết về ông vừa lấy xuống từ Internet trong đêm qua. Tôi rón rén đi nấu nước pha trà rồi bưng đến đặt bên cạnh ông. Hai anh em ngồi trò chuyện. Ông tránh những câu chuyện cũ dù là chuyện “buồn ít hơn vui”. Một lúc, giữa buổi mai thanh vắng, tôi hỏi ông:

- Anh Phạm Duy, điều nầy em định hỏi anh từ lâu nhưng không tiện. Bây giờ lòng dạ đang sáng trong, chỉ có hai anh em, anh cho em hỏi thật: Em biết anh ở bên Mỹ có nhà cửa đàng hoàng, anh có tiền, có bạn bè, có bà con chung quanh, có điều kiện đi đây đi đó, khi nào muốn có thể lên máy bay về thăm quê, thế tại sao anh lại xin về định cư vĩnh viễn ở Việt Nam?

Trò chuyện với NS Phạm Duy tại Gác Thọ Lộc (2005). Ảnh VTCT

Phạm Duy nhìn vào mắt tôi và trả lời:

- Nhiều người cũng đã hỏi anh câu đó. Nhưng anh từ chối để cho họ hiểu như thế nào thì tùy họ. Nhưng đối với em, anh phải nói thật, hết sức đơn giản: Một, ở bên Mỹ những nghệ sĩ, nhạc sĩ bạn anh, khi đau ốm bạn bè đến thăm họ luôn gợi chuyện căm thù. Đến khi chết sắp lấp đất họ đọc điếu văn cũng gợi căm thù. Con người đến khi chết mà còn phải mang căm thù xuống tận tuyền đài nữa, anh sợ quá. Anh phải xin về VN để khi chết được thanh thản vào cõi vĩnh hằng mà thôi. Hai, như em biết, suốt đời anh, anh khát vọng thống nhất đất nước. Năm 1975 mới thống nhất lãnh thổ chứ giống nòi chưa thống nhất nên anh phải ra đi. Nay có Nghị quyết 36, những gì anh ước mong trong bài hát Việt Nam Việt Nam đã bắt đầu trở thành hiện thực. Anh phải về để hưởng hạnh phúc mà anh đã ước mong hơn nửa thế kỷ qua. Anh phải về để làm việc xưng tụng đất nước, xưng tụng dân tộc Việt Nam với 83 triệu người và sắp vào WTO. Việt Nam không còn là nước nhược tiểu nữa, âm nhạc Việt Nam phải vươn lên ngang tầm với dân tộc mình. Chỉ có thế thôi!

Tôi nín thở lắng tai nghe và nuốt từng lời Phạm Duy nói. Tôi vui quá muốn ôm anh để chúc mừng sự thành công của Phạm Duy và cũng là của chính tôi. Nhưng rồi sợ làm vỡ mất cái không khí trầm lắng hiếm có, tôi gượng lại được và nói:

 - Em mừng sự thành công của anh. Các nghệ sĩ thế hệ của anh không mấy người được thành công như anh phải không?

Phạm Duy không tỏ ra hân hoan chút nào, ông đáp lời tôi một cách thản nhiên:

- Không có sự thành công nào mà không phải trả giá cả. Anh ở bên kia từng hứng chịu biết bao “gió tanh mưa máu”, về bên nầy không phải ai cũng hiểu anh như em đâu! Nhưng dù sao anh cũng có cuộc sống riêng của anh. Anh phải sống như thế nào để anh cống hiến được nhiều nhất. Còn chuyện đời rồi đâu lại vào đó thôi. 

Thấy không cần phải nói thêm điều gì nữa, tôi uống một ngụm nước trà rồi buột miệng hát:

 - “Vì yêu, yêu nước, yêu nòi/ Ngày Xuân tôi hát nên bài (ư bài) TÌNH CA! Ruộng xanh tươi tốt quê nhà/ Lòng tôi đã nở như là (ừ là) đoá hoa !”

 Nhạc sĩ Phạm Duy nói rất khẽ, rất êm ái:

 - Lúc ấy anh mới ba mươi ba tuổi.

 Tôi thêm vào:

- Thế mà anh phải phấn đấu đến tuổi tám mươi lăm khát vọng ấy mới trở thành hiện thực.

 - Đúng như thế.

                                                                           Gác Thọ Lộc, 5-2012


[1] Tổng thống Mỹ Johnson  tuyên bố ngày 20-5-1965 “sẵn sàng chấp nhận hòa bình trong danh dự” (Xem Đoàn Thêm, 1965 Việc từng ngày, Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, SG 1968, tr. 70

 

[ In trang ]    [ Đóng lại ]