14/05/2019

A-so hay A sầu?

Trong lúc làm việc từ thiện với Đội công tác xã hội của Thành đoàn Huế, vô tình tôi được đọc một lá thư (viết từ tháng 3-93) của Bí thư Huyện đoàn A-Lưới (tỉnh Thừa Thừa Huế) nói về tình hình khó khăn của đồng bào Pa-cô ở khu kinh tế mới A-So. Trong thư có đoạn viết: “Về đời sống, vì mới lên nên sản xuất chưa được phát triển, mức ăn của dân còn thấp, gạo không đủ, chủ yếu sống bằng rau cỏ. Chưa làm ra tiền, bệnh tật phát triển, nhất là bệnh sốt rét, đau bụng, ghẻ lở, đau đầu… Chăn màn, quần áo, thuốc men, sách vở hầu như không có, cuộc sống của dân thật khổ”.

Lá thư làm cho tôi bàng hoàng day dứt mãi. Giải phóng A-Lưới đã gần hai mươi năm rồi, tôi không ngờ trên cái tỉnh sắp chuyển lên thành Thành phố Huế trực thuộc Trung ương này, lại còn sót lại một bộ phận dân chúng khổ sở đến thế! Nguyên nhân nào đã gây ra hậu quả ấy?

Hai chữ “A-so” nhắc đến trong lá thư hiện lên trong trí nhớ tôi những sự kiện bi hùng của một thời chiến tranh A-so - tên một bản nhỏ ở nơi thâm sơn cùng cốc đã trở thành một địa danh nổi tiếng. Bom đạn, chết chóc và nỗi buồn dai dẳng đã biến A-so trở thành A-sầu như cách gọi quen thuộc trước đây của những người lính bên kia chiến tuyến.

Lá thư của Huyện đoàn A-Lưới thúc giục tôi phải trở lại thăm những người anh em đã từng đùm bọc tôi và đồng đội tôi trong những năm chiến tranh gian khổ.

1. Con đường không vui.

Chiếc xe đò đưa tôi lên A-so rời Huế lúc năm giờ sáng. Xe có ba hàng ghế ngang và một khoang sau. Tiêu chuẩn xe chở 25 người, nhưng xe có đến 60 hành khách.

Đường 12 làm từ thời Pháp thuộc. Thời chống Mỹ, nhiều bạn bè của tôi đã hy sinh vì mãnh đạn pháo địch theo đường 12. Hồi ấy, mỗi lần băng qua đường 12, chúng tôi phải chuẩn bị tư thế như sắp ra trận. Ngày nay những bạn đồng hành không thể hiểu tôi đang nghĩ gì mỗi khi đi qua những địa danh như suối Máu, Bát-tô, Bia-hem…

Đường 12 nối với đường Đông Trường Sơn (cũng gọi là đường 14, đường mòn Hồ Chí Minh). Sau ngày chia tỉnh, chính quyền đã bỏ ra bạc tỉ để sửa chữa con đường này. Đây là con đường chiến lược, nếu cần có thể mở qua đến đất bạn Lào. Nhưng hiện nay vẫn còn đó những ổ gà, ổ voi, cầu cống sạt lở, xe đò lên về không thể chạy quá 15km/giờ. Độ chênh lệch giữa đồng tiền bỏ ra và chất lượng sửa chữa con đường lớn quá. Đây là vấn đề đã làm xôn xao dư luận Thừa Thiên-Huế một thời. Cho đến nay, vấn đề vẫn chưa được giải quyết.

Lúc trả tiền, tôi hỏi chủ xe:

- Đường sá quá xấu sao anh chở người đông vậy?

- Mỗi tháng chỉ chở được có bảy chuyến mà đã nạp đến nửa triệu bạc thuế. Không chở quá tải thì làm sao sống, thưa anh! - Người chủ xe trả lời - Từ Hồng hạ trở lên, người dân tộc nghèo lắm, mỗi khách chỉ trả một vài ngàn đồng, thậm chí có người không có tiền cũng phải mời họ lên xe. Phải xoay xở của người Kinh để giúp cho người dân tộc chớ, biết làm sao bây giờ!

Đó là một cách giải thích, tôi lắng nghe dù tôi không tin.

2. Ở độ cao 600 thước.

Hồng Hạ là xã giáp với huyện Hương Trà. Bản làng ở đây tương đối ổn định. Cầu Hồng Hạ mới khánh thành. Một vài đoạn đường được tráng nhựa phẳng phiu. Các “băng trầm” ba lô căng đầy thực phẩm khô từ từ xuống dọc đường để tránh những trạm kiểm soát. Cứ có một tốp người xuống thì lại có một tốp người dân tộc lên điền vào chỗ trống.

Con đường men theo triền núi bò lên dốc ngoằn ngoèo khúc khuỷu, làm cho tôi nhớ lại đèo Ngoạn Mục từ Eo Gió lên Đà Lạt. Chỉ khác một điều: đường lên Đà lạt thì um tùm cây xanh, còn con đường lên A-so thì trọc lóc. Rừng nguyên sinh bị chất độc hóa học phá sạch. Trên những dãy núi trọc thỉnh thoảng còn lại vài thân cây khô đứng chới với thương tiếc thời oanh liệt của mình. Giữa dốc đèo nắng chang chang, thỉnh thoảng điểm một vài lán trại của các băng tầm nã sắt vụn. Những trái núi ở gần những láng trại đó đều cháy đỏ. Cát nóng giữa vùng đồi trọc trở nên ác liệt hơn. Một hành khách, vốn là giáo viên ở địa phương, nói vui với tôi:

- Trước kia, người Mỹ thả chất độc diệt rừng xanh để tìm quân giải phóng. Giờ đây, những người thất nghiệp đốt rừng để tìm xương cốt và sắt vụn của Mỹ.

- Đốt núi như thế không có ai phạt sao? Tôi hỏi.

Anh giáo viên chưa kịp trả lời thì có tiếng nói to:

- Đến Bốt Đỏ rồi! Cho xuống!

Thế là, đã vượt qua được cái đèo mệt mỏi, ai cũng mừng nên câu hỏi của tôi bị rơi vào thinh không. Đồng hồ chỉ 11 giờ trưa.

Bốt Đỏ là “thị trấn” nơi đường 12 gặp đường 14, ở độ cao 600 mét so với mặt qua sông A-sáp.

Vùng kinh tế mới này vốn là nơi tỉnh Bình Trị Thiên (cũ) chọn và đặt kế họach di dân huyện Hương Điền (cũ) lên. Sau đó chia tỉnh, kế hoạch bị đình hoãn. Nhân có việc tranh chấp địa giới ở bắc A-Lưới và Hướng Hóa (Quảng Trị), tỉnh Thừa Thiên-Huế đưa dân Pa-cô ở xã Đông Sơn, vùng hay xảy ra tranh chấp, vào định cư ở A-so. Cho đến tháng 4.93, đã có 105 hộ với trên 1000 nhân khẩu đã vào canh tác tám héc-ta lúa nước ven các khe suối, trồng được một ít sắn, thơm (dứa). Mỗi lao động được trợ cấp gạo 15kg/tháng, người ăn theo 8kg; thời gian được cấp: sáu tháng. Đến nay, đời sống của số đồng bào ấy đã tạm ổn định, 100 em nhỏ đã đến trường từ lớp một đến lớp bốn, người bệnh có thể đến trạm xá khám chữa bệnh... Người ta đã có đủ thời gian để nhận ra rằng không thể trồng sắn ở vùng tụ thủy nên đã bắt đầu bỏ sắn trồng môn (khoai sọ).

3. Một chút sự thật nhức nhối.

Hỏi về tình trạng bệnh tật của nhân dân, y sĩ người Pa-cô, Lê Minh Trị, cho biết:

Dân đau ốm nhiều lắm. Trạm xá mới làm việc từ đầu tháng 6.93, đã chữa đến 32 người sốt rét, hàng trăm người bị tiêu chảy, viêm phổi, đau đầu, ghẻ lở... Thuốc sốt tương đối đầy đủ, thuốc tiêu chảy có một ít, còn các thuốc khác như kháng sinh, trợ sức, trợ tim thì ôi thôi... Không có gì. Uống thuốc sốt mà không có chi ăn,không có thuốc bổ kèm theo sẽ mất máu, dân sợ lắm!

Anh Hồ Gia Nghinh - phụ trách an ninh của xã đưa chúng tôi đi xem thực tế. Mười giếng nước xây cho dân kinh tế mới, nền xi-măng chung quanh giếng sập hết, nước giặt rửa chảy lại vào giếng. Đường mương dẫn nước từ khe Chay ở chân núi ra không có nước, cỏ mọc um tùm. Dân bản An-xam mới dời vào đầu tháng 6.93 không có nước uống, họ sống bằng nước mưa đọng lại trong các hố bom. Chúng tôi vào thăm cái chòi của một hộ gia đình khá giả nhất của bản mới. Tôi được mời uống nước. Ngay trưa hôm đó bụng tôi phát đau. Hỏi ra mới biết hóa ra tôi đã uống nước nhiễm chất độc hóa học ở các hố bom. Có lẽ nguồn nước sinh hoạt là nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy ở A-so chăng?

Các “giếng nước” chiến lợi phẩm này còn khá nhiều, đặc biệt là khu vực chung quanh vị trí đồn A-so bị đánh sập năm 1966. Những mãnh bê-tông nặng nề, cục mịch vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt suốt 27 năm qua. Anh Quỳnh Trên, Bí thư huyện ủy A-Lưới cho biết: Dưới đống bê-tông ấy có một cái hầm ngầm bị đánh sập, từ ấy đến nay chưa ai khai quật để biết ở dưới ấy có ai và có cái gì!

Phía trước đống bê-tông có một cái huyệt nhỏ, đất mới đào còn nham nhở bên cạnh cái poncho liệm tử thi nhàu nát. Anh phụ trách an ninh cho biết, đó là vết tích của một nắm mộ của người Mỹ đã được phái đoàn MIA cải táng.

Ở đây còn nhiều chuyện lắm. Nếu có thì giờ hỏi các mặt nước hố bom trong veo kia hẳn rõ. Nhưng lúc này đối với chúng tôi không quan trọng. Điều chúng tôi quan tâm nhất là cuộc sống của người dân ở đây. Ngồi uống nước, bà con bản An-xam kể:

Hiện nay còn 55 hộ ở quê cũ đã cúng Giàng mà chưa đến chỗ mới được. Họ đang cắm trại dọc đường Đông Trường Sơn nhờ di chuyển theo lời vận động của chính quyền. Chờ hoài không thấy. Con ma đói, mưa bão đang rình mò sau lưng họ. Những hộ đã chuyển đến từ đầu tháng 6 chưa được phát tiền để dựng nhà. Những bộ sườn nhà đem từ quê cũ đến đang nằm dài dưới đất, nhiều bộ đã bị mối hỏi thăm. Nhà nước đã tuyên bố cho mỗi người 18 cân gạo một tháng, nhiều người chỉ nhận được 15 cân, thậm chí 13 cân. Nhà nước nói cho sáu tháng, nhiều hộ đến đây đã bảy tháng, tám tháng rồi mà chỉ mới nhận ba bốn tháng gạo. Dắt mỗi con bò, con trâu đến quê mới phải đi hàng sáu bảy chục cây số, Nhà nước nói thù lao dắt mỗi con hai ngàn đồng cũng không thấy.

Dân cũng phản ánh nhà thầu ở Đà Nẵng xây dựng cầu bắt qua sông A-sáp không tốt. Anh phụ trách an ninh than phiền: “Thợ nề đưa xi-măng làm cầu đi bán. Vì thế việc làm cầu rất lâu”.

Tôi hỏi về chất lượng cây cầu, anh Mặc - Phó phòng lao động và TBXH - cơ quan chịu trách nhiệm điều động dân đến A-so đáp:

- Chuyện đó ngoài khả năng của người dân tộc chúng tôi!

- Nhà nước có thiếu nợ dân không?

- Có - Anh Mặc xác nận - Huyện vận dộ9ng dân theo kế họach của tỉnh duyệt, nhưng tỉnh chưa rót xuống đủ tiền thì Nhà nước cấp huyện phải thiếu nợ dân thôi!

- Dân đang trông đợi huyện giúp để di chuyển đến chỗ mới ổn định sản xuất trước mùa mưa bão, kế họach tiếp tục di dân của các đồng chí như thế nào?

- Vừa rồi, Nhà nước đã có Quyết định 327 giao việc này cho ngành Nông nghiệp, chúng tôi đang chuẩn bị bàn giao!

Tôi liền tìm gặp phòng Nông nghiệp thì được biết trưởng phòng đi học tám tháng nữa mới xong. Như thế, nếu quả là trách nhiệm sẽ được bàn giao cho phòng Nông nghiệp thì ít nhất trên tám tháng nữa việc đưa số dân ở bên đường Đông Trường Sơn còn lại đến A-so mới được tiếp tục. Tắc trách hết chỗ nói!

Tôi hơi thất vọng. Thấy tôi bứt rứt không được gặp người phụ trách phòng Nông nghiệp, một lãnh đạo ở huyện an ủi tôi:

Gặp đồng chí Nông nghiệp lúc này cũng không giải quyết được việc gì. Nguyên nhân gây ra sự ách tắc này từ tỉnh, nói đúng hơn là từ Trung ương kia! Thành lập khu kinh tế mới A-so theo tinh thần quyết định 116 của Hội Đồng Bộ trưởng, kế hoạch đang được thực hiện tốt thì QĐ 327 của Chính phủ ra đời, công việc ở A-so phải dừng lại. Người ta cho rằng QĐ 327 thì chỉ nhằm phủ xanh đất trống đồi trọc, không có khoản nào nói về trách nhiệm làm đường sá, cầu cống, trường học, bệnh xá, giếng nước cho dân xây dựng kinh tế mới như QĐ 116 cả. Trung ương mà chưa có ý kiến cụ thể bổ sung thêm nhiệm vụ cho QĐ 327 thì chúng tôi cũng phải bịt tai để nghe dân chửi! Chuyện này phổ biến chứ không riêng gì A-so.

Trở lại A-so

Lỗi lạc các nhà viết quyết định ở Trung ương hay lỗi tại các cấp chính quyền địa phương hiểu không đúng nội dung các quyết định của Trung ương?

4. Dân vẫn là dân đó thôi.

Nghe theo lời Cách mạng, dân miền Tây (vùng căn cứ kháng chiến phía tây Thừa Thiên-Huế) hy sinh tất cả cho kháng chiến. Sau ngày giải phóng, lại nghe lời Cách mạng từng bước bỏ phát rẫy, đốt rừng tìm cách định cư, bỏ bớt sắn để trồng cà phê, bỏ bớt cà phê để trồng trầu, bỏ trầu trồng quế... Và mới đây theo lời kêu gọi, dân Đông Sơn bỏ vùng tranh chấp giáp giới với Quảng Trị, di chuyển vào A-so ở phía Nam. Mỗi lần thay đổi như thế, dân bị thiệt hại lớn về kinh tế, nhưng được cái “hoàn thành nhiệm vụ chính trị”. Bởi thế dân rất khó hiểu vì sao kế hoạch di dân chưa xong mà chính quyền lại bỏ lửng! Dân cảm thấy bơ vơ như kẻ vô thừa nhận. Những hộ đã di chuyển đến rồi chưa ổn định, những công trình xây dựng ít ỏi không tốt.

Tôi hỏi:

- Là an ninh của địa phương, sao đồng chí không góp phần giám sát để cho người ta làm tốt?

Hồ Gia Nghinh đáp:

Các bên A bên B gì đó, họ làm việc với nhau mình làm sao biết được! Nếu mình biết Nhà nước cho dân A-so bao nhiêu để xây dựng các thứ đó thì mình mới bắt được chớ! Nhưng anh ơi, tiền trong túi người ta, mình thắc mắc chi, khổ cho mình!

*

*         *

Chúng tôi rời A-so vào buổi trưa. Các cháu nhỏ chạy theo ra đầu bản bịn rịn. Bụng tôi quặn thắt. Một phần vì nước hố bom có chất độc hóa học đã bắt đầu ngấm vào thành ruột của tôi, một phần vì hoàn cảnh bi đát của người dân A-so. Tôi buột miệng nói với người bạn đồng nghiệp cùng đi:

- Đến nay vẫn còn là A-sầu, Đại Dương ạ!

Đến bao giờ ánh sáng của các chính sách dân tộc, xóa đói giảm nghèo của Nhà nước mới chiếu đến đây?

Lao Động số 65/93 ra ngày 15.8.1993)

[ In trang ]    [ Đóng lại ]