Mục từ “Nguyễn Trường Tộ” trong Từ Điển Bách Khoa Việt Nam cần phải viết lại
Tại hội thảo khoa học Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, tổ chức tại Thanh Hóa vào trung tuần tháng 10-2008, trong khi thảo luận tôi có phát biểu đại ý rằng sách báo, các bài tham luận, nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ ở Việt Nam lâu nay vì thiếu tài liệu tham khảo nên không tránh được sai lạc về thông tin cũng như những nhận định, đánh giá về Nguyễn Trường Tộ.

Ngày nay, đất nước đã mở cửa, các nhà nghiên cứu có thể tham khảo những tư liệu mới ở nước ngoài để hiệu đính lại những chỗ bất cập trong sử sách nước ta. Trong các chuyến đi nước ngoài trong vòng mười lăm năm qua, tôi có thu thập được một ít, các bạn tôi ở nước ngoài gởi cho tôi một số nữa, nếu các nhà nghiên cứu Nguyễn Trường Tộ cần tham khảo tôi sẵn sàng chia sẻ. Vì thế, từ sau hội thảo đến nay (2-2009) tôi nhận được nhiều thư từ trao đổi về Nguyễn Trường Tộ. Mới đây, một thầy giáo dạy sử Việt Nam tại Hà Nội gởi thư hỏi tôi có nhận xét gì về mục từ “Nguyễn Trường Tộ” trong các từ điến Việt Nam như Việt Nam Danh Nhân từ điển của Nguyễn Huyền Anh (SG 1974), Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân từ điển của Trịnh Vân Thanh (SG 1966), Từ Điển Văn Hóa Việt Nam (Nhân vật Chí, Nxb Văn Hóa, HN. 1993), Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế (in lần thứ 5, TP HCM 1999), Từ Điển Văn Học Việt Nam bộ mới (HN 2004), Từ Điển Bách Khoa Việt Nam của Hội đồng chỉ đạo biên soạn TĐBKVN, tập 3 (Hà Nội 2003).v.v.

Trong tủ sách của tôi không có đủ tất cả từ điển Việt Nam có viết mục từ Nguyễn Trường Tộ để tôi có thể đọc và bình luận hết được. Hơn nữa thông thường người ta chỉ quan tâm đến những công trình chính thống của quốc gia và cập nhật hơn là những công trình cá nhân, tập thể nào đó đã cũ. Quan niệm như vậy cho nên tôi  xin chỉ bình luận mục từ Nguyễn Trường Tộ trong Từ Điển Bách Khoa Việt Nam của Hội đồng chỉ đạo biên soạn TĐBKVN, tập 3 (Hà Nội 2003) mà thôi.   

Từ Điển Bách Khoa Việt Nam viết:

“NGUYỄN TRƯỜNG TỘ, (1830 - 71), sĩ phu yêu nước Việt Nam, nổi tiếng theo chủ trương duy tân đất nước. Quê: làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Theo đạo Thiên Chúa; học giỏi, có tài văn chương, được gọi là “ông Trạng Tộ”. Năm 1855, dạy chữ Hán cho tu viện Xã Đoài. Học chữ Pháp. Năm 1858, đi Hương Cảng, Xingapo để sang Rôma, sau đó đi Pari học Đại học Xoocbon, học được điều hay của nền văn minh, công nghệ tiên tiến ở Pháp (khai mỏ, làm vũ khí, xây dựng nhà cửa...). Năm 1861, về nước làm phiên dịch tiếng Pháp cho nhà Nguyễn. Trong thời gian này, với tầm nhìn xa trông rộng, nhận thức sâu sắc tình trạng lạc hậu của đất nước, trong bối cảnh mới của thế giới, Nguyễn Trường Tộ đề nghị triều đình gấp rút duy tân đất nước, mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước phương Tây, cử người đi học khoa học kĩ thuật nhằm tự cường, tự lập. Năm 1866, giúp chính quyền địa phương đào kênh Sắt, tìm cách khai thác mỏ than và kim loại. Sau đó lại được cử sang Pháp mời chuyên gia kĩ thuật, mua máy móc, sách vở để về nước mở trường kĩ thuật. Thời gian này, Nguyễn Trường Tộ đã dâng bản điều trần “Tám điều cấp cứu” (Tế cấp bát điều) như cần gấp rút chấn chỉnh võ bị, bộ máy hành chính, tài chính, học thuật, thuế điền thổ... nhưng triều đình nhà Nguyễn đã khước từ các đề nghị của ông. Tháng 9.1871, Nguyễn Trường Tộ gửi thêm nhiều điều trần đề nghị cải cách, chấn hưng kinh tế. Cho đến ngày nằm trên giường bệnh, ông vẫn thiết tha về công cuộc duy tân đất nước (xt. Điều trần của Nguyễn Trường Tộ). Đối với lịch sử văn chương chính luận Việt Nam, văn điều trần của Nguyễn Trường Tộ là một mốc phát triển mới, trước hết là nhãn quan và tinh thần thực tiễn, có tầm cỡ một nhà tư tưởng mới trước các vấn đề của đất nước và thời đại. Nguyễn Trường Tộ còn là người có công trong việc đem những hiểu biết về xây dựng nhà cửa, nhất là các công trình tôn giáo ở Châu Âu để tạo nên những công trình tôn giáo ở Việt Nam như công trình xây dựng tu viện dòng thánh Phaolô ở Sài Gòn (1862 - 64), cơ sở Nhà chung ở Xã Đoài quê ông (1868 - 70). Đây là những công trình khởi đầu của việc du nhập công nghệ xây dựng ở Châu Âu vào Việt Nam”[1]

Bình luận: Đối với học giới, từ điển có nhiệm vụ, nhất là từ điển bách khoa toàn thư, giúp người xem hiểu và vận dụng (sử dụng) chính xác một từ, ngữ, thuật ngữ, thành ngữ, khái niệm, phạm trù hay một vấn đề cụ thể trong đời sống xã hội con người. Các soạn giả Từ Điển Bách Khoa Việt Nam dành 454 từ cho mục từ Nguyễn Trường Tộ. Những thông tin trong mục từ ấy có đạt được tính chính xác để làm cẩm nang cho học giới chưa? Tôi xin bình luận về vấn đề nầy.  

1. Nguyễn Trường Tộ  sinh năm 1830?

 Hiện nay, chúng ta chưa đủ tài liệu để xác định một cách chắc chắn về năm sinh của Nguyễn Trường Tộ. Theo Lê Thước, trong bài Nguyễn Trường Tộ tiên sinh tiểu sử, viết “Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828, năm Minh Mạng thứ 9 (Nam Phong số 102, Phụ lục 2). Từ Ngọc Nguyễn Lân tác giả sách Nguyễn Trường Tộ  (Mai Lĩnh xb năm 1942, tr. 20) cũng viết “Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828, năm Minh Mạng thứ 9”. Phần lớn các tác giả viết tiểu sử Nguyễn Trường Tộ sau đó đều theo Lê Thước và Từ Ngọc Nguyễn Lân.

Nguyễn Trường Tộ, Từ Ngọc Nguyễn Lân, Mai Lĩnh xb, HN. 1942 

Việt Nam Danh Nhân từ điển của Nguyễn Huyền Anh (SG 1974, tr. 401) viết Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828;

Từ Điển Văn Hóa Việt Nam (Nhân vật Chí, Nxb Văn Hóa, HN. 1993, tr.410) viết Nguyễn Trường Tộ  sinh năm 1928;

Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế (in lần thứ 5, TP HCM 1999, tr. 676) viết Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1928;

Riêng một số tác giả người theo (hoặc thân) đạo Thiên chúa thì viết khác.

Việt Nam tự điển (Q. hạ, Phần 2, tr. 176), Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ ghi  Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1827.

Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân từ điển của Trịnh Vân Thanh (SG 1966; tr. 872) viết Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1818;

Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo của L.m. Trương Bá Cần (nxb TP HCM 1998, tr.19) lại viết  Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1830 vì “Nguyễn Trường Cửu, con trai của Nguyễn Trường Tộ, trong Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ, không nói năm sinh, nhưng nói: "mất ngày 10 tháng 10 năm Tự Đức 24... thọ 41 tuổi". “Nếu ông mất năm Tự Đức 24, tức năm 1871 và thọ 41 tuổi, thì năm sinh phải là 1830. Ngày mất và tuổi thọ của một con người thường được gia đình truyền đạt một cách chuẩn xác”. Nhận định của L.m. Trương Bá Cần nghe có lý nhưng cái năm sinh 1930 của Nguyễn Trường Tộ cũng chỉ là kết quả của sự suy diễn chứ chưa chắc đã đúng. Bởi vì lúc Nguyễn Trường Tộ qua đời Nguyễn Trường Cửu mới 18 tháng tuổi chưa chắc đã biết được thân sinh của ông thọ 41 tuổi Tây hay 41 tuổi ta? Nếu đó là tuổi ta thì lớn hơn tuổi Tây một tuổi, tức là Nguyễn Trường Tộ chỉ thọ 40 tuổi (Tây) thôi. Như vậy năm sinh của Nguyễn Trường Tộ  phải là: 1871- 40 = 1831. Có lẽ vì còn mập mờ như thế nên các tác giả biên soạn Từ Điển Văn Học Việt Nam bộ mới (HN 2004) dù phải viết theo Từ Điển Bách Khoa của Quốc gia Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1930 (tr.1207) nhưng vẫn để mở nên đã viết thêm “có tài liệu nói ông sinh năm 1928”. Theo tôi viết theo Từ Điển Văn Học Việt Nam là để mở dễ chấp nhận hơn.

2. Từ Điển Bách Khoa Việt Nam viết: Nguyễn Trường Tộ  “Năm 1855, dạy chữ Hán cho tu viện Xã Đoài. Học chữ Pháp. Năm 1858, đi Hương Cảng, Xingapo để sang Rôma, sau đó đi Pari học Đại học Xoocbon”

Đoạn văn nầy có quá nhiều điều cần phải xem xét.

2.1. Nguyễn Trường Tộ được mời vào dạy chữ Hán cho tu viện Xã Đoài năm 1855? Người biên soạn tham khảo tài liệu nào? Theo Lê Thước - người được tiếp cận với gia đình của Nguyễn Trường Tộ  sớm nhất ước đoán là lăm 1858 (trích lại của Trương Bá Cần, tr.20).  

2.2. “Học chữ Pháp”.  Học chữ Pháp từ năm nào? Học với ai? Dù văn của Từ điển phải rất gọn, tuy nhiên không thể gọn đến khó hiểu. Phải biết Nguyễn Trường Tộ học chữ Pháp từ năm nào để biêt trình độ chữ Pháp của ông khi ông vào làm việc cho Pháp năm 1861. Phải biết ông học chữ Pháp với ai để biết ông đã được dạy những gì. L.m. Trương Bá Cần từ năm 1988 đã viết: “Sau khi thôi học, Nguyễn Trường Tộ đã có mở trường dạy chữ Hán tại nhà, rồi được mời dạy chữ Hán trong Nhà chung Xã Đoài và được Giám mục người Pháp tên là Gauthier (Ngô Gia Hậu), dạy cho học tiếng Pháp và giúp cho có một số hiểu biết về các khoa học thường thức của Tây phương. (TBC, tr.20). Nguyễn Trường Tộ là học trò chữ Pháp của Giám mục Gauthier (Ngô Gia Hậu). Gauthier là người Pháp, làm nhiệm vụ cộng tác với thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam để mở rộng nước Chúa, ông bỏ công sức đào tạo Nguyễn Trường Tộ không ngoài mục đích phục vụ cho nhiệm vụ chính của ông. Bỏ qua chuyện Nguyễn Trường Tộ học với Gauthier là giấu cái xuất xứ không phải của dân tộc của Nguyễn Trường Tộ. 

2.3. Nguyễn Trường Tộ “Năm 1858, đi Hương Cảng, Xingapo để sang Rôma, sau đó đi Pari học Đại học Xoocbon”. Từ Điển Bách Khoa Việt Nam viết như thế là đã bỏ qua hai sự việc quan trọng:

Liên quân Pháp - Tây Ban Nha đánh vào Đà Nẵng tháng 9 năm 1858. Les Grands Dossiers de L’Illutration. L’indochine, p. 15

2.3.1. Năm 1858, trước khi đi ngoại quốc Nguyễn Trường Tộ đã cùng với thầy mình là Gauthier, với Giám mục Pellerin đến đón đoàn quân viễn chinh Pháp vừa đánh chiếm Đà Nẵng. L.m. Trương Bá Cần đã thuật lại sự kiện đó như sau:

“Theo lời khai của một lang y (người thôn Thuận An, tổng Thanh Vân, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) tên Trần Vinh, bị tàu Pháp bắt đem đi rồi sau trốn thoát được, kể lại thì ngày 10 tháng 9 (tức 16-10-1858), tàu Pháp (trên đó có Trần Vinh) đến đảo Nhãn Sơn, trước cửa Mành Sơn, để đón "Đức thầy Huy và Cố Lý" (tức Giám mục Gauthier và Linh mục Croc, cũng có tên là Hậu và Hòa) nhưng "hôm qua hai vị đã lấy thuyền Nhà Chung với 8 người đi rồi". Khi tàu Pháp trở về Trà Sơn, Đà Nẵng, thì thấy thuyền Nhà Chung đã ở đó rồi. (Xem Châu bản Triều Nguyễn CBR 22/47). Các giáo sĩ Pháp tập trung khá đông đảo tại Đà Nẵng, đứng đầu là Giám mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm. Nhưng bộ chỉ huy quân sự Pháp đánh giá là không thể dễ dàng tiến đánh Huế mà phải chuyển hướng về Sài Gòn. Do đó, trước khi đem quân vào Sài Gòn, Đô đốc Rigault de Genouilly đã tìm cách bắt buộc các giáo sĩ Pháp, hoặc trở về nhiệm sở hoặc đi tạm lánh ở Hong Kong. Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn Trường Tộ và những người tháp tùng đã đi sang Hong Kong trong những điều kiện như thế vào đầu năm 1859”. (Trương Bá Cần, Sdd tr. 22)

 Không đạt được mục đích xúi dục Pháp đánh chiếm Kinh đô Huế, thầy trò Gauthier - Nguyễn Trường Tộ không dám về lại nhiệm sở Nghệ An nên buộc phải trốn đi Hong Kong. Tài liệu trong sách của L.m. Trương Bá Cần xuất bản từ năm 1988, Từ Điển Bách Khoa Việt Nam (tập 3) xuất bản năm 2003 (sau 15 năm) mà không biết thông tin nầy sao?

2.3.2. Từ Điển Bách Khoa Việt Nam không biết Nguyễn Trường Tộ trước khi đến Đà Nẵng cuối năm 1958 đã từng là một linh mục?  Nguyễn Trường Tộ từng là một linh mục. Thầy của Nguyễn Trường Tộ cho biết như thế.Trong tờ Trình của Tỉnh Nghệ An (Ngày 26 tháng 3 năm Tự Đức 23, tức 26-4-1870) do ba ông Hoàng Kế Viêm, Nguỵ Khắc Đản, Trần Nhượng tâu với vua Tự Đức về những thông tin Giám mục Gauthier báo riêng với họ có đoạn viết: “Thần hỏi : Gia Hậu đề cập đến tên Nguyễn Trường Tộ là người như thế nào vậy? Đáp: Tên Trường Tộ trước là linh mục(trích lại của Trương Bá Cần, tr.478). Giám mục Gauthier nói Nguyễn Trường Tộ - học trò của ông là linh mục thì không thể nghi ngờ được. Phải chăng vì không biết Nguyễn Trường Tộ là linh mục và đã đi với các Giám muc Croc, Pellerin vào Đà Nẵng “cùng nhau làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm” nên Từ Điển Bách Khoa Việt Nam mới viết Nguyễn Trường Tộ là  một “sĩ phu yêu nước Việt Nam”  chăng ?

Linh mục Nguyễn Trường Tộ đi cùng với Giám mục Ngô Gia Hậu tiếp đón đoàn quân Pháp đánh chiếm Đà Nẵng năm 1858 và thúc Pháp đánh chiếm Huế

2.3.3. Nguyễn Trường Tộ “Năm 1858, đi Hương Cảng, Xingapo để sang Rôma, sau đó đi Pari học Đại học Xoocbon”, có đúng không?

Xin nghe cụ Đào Duy Anh nhận định trên báo Tri Tân rằng: “Nguyễn Trường Tộ trốn theo Pháp đầu năm 1859, mà đến khi Đại đồn (đồn Chí Hòa, Gia Định) thất thủ là đầu năm 1861, Nguyễn Trường Tộ đã về làm việc ở Suý phủ ở Gia Định. Nếu trừ đi nửa năm thời bấy giờ đi về thì Nguyễn Trường Tộ có thể ở nước Pháp chừng một năm rưỡi. Ta có thể đoán rằng trong khi Nguyễn Trường Tộ ở Pháp, ông không theo học trường nào, nhưng vì đã có học được ít chữ với giám mục Gauthier, nên ông có thể nhờ sách vở và kiến văn mà khảo cứu được các khoa học, kỹ thuật, cùng là chính trị, phong tục, lịch sử nước Pháp và các nước Âu châu”.

Nguyễn Trường Tộ giỏi chữ Hán, còn chữ Pháp chỉ được học chút ít với Giám mục Gauthier. Cho đến năm 1961, vào làm việc cho Súy phủ của Pháp ở Gia Định chỉ làm từ hàn lo dịch chữ Hán chứ không thể làm thông ngôn chữ Pháp. Cụ Đào Duy Anh cũng đã viết rõ điều ấy:“Nguyễn Trường Tộ học rộng nhưng viết và nói tiếng Pháp không thạo lắm, vì ông không chuyên học chữ Pháp ở Pênăng như các ông Trương Vĩnh Ký và Nguyễn Hoằng. Bởi thế, không khi nào làm thông ngôn. Mà khi giúp việc cho Suý phủ thì chỉ làm việc từ hàn (lettré) cũng như Tôn Thọ Tường. (Sau nầy) mỗi khi triều đình cần dùng người thông ngôn thì Nguyễn Trường Tộ cứ giới thiệu Nguyễn Hoằng (Di thảo số 5) (linh mục Hoằng) chứ tự mình không khi nào đương việc ấy”. (Theo BAVH số 2 tháng 4-6 năm 1944 tr. 135 và Tri Tân số 7 ngày 18-7-1941 bài "Nguyễn Trường Tộ học ở đâu?")

Nguyễn Trường Tộ không có bằng cấp gì của Việt Nam cũng như của Pháp, trình độ Pháp ngữ rất hạn chế thế thì làm sao ông có thể vào học Đại học Sorbonne được? Viết Nguyễn Trường Tộ “đi Pari học Đại học Xoocbon” là một thông tin hư cấu chứ không có thực.   

2.3.4. Năm 1859, Nguyễn Trường Tộ có đi Pháp được không?  Trình độ Pháp ngữ của ông như thế nào?

L.m. Trương Bá Cần đã trình bày vấn đề nầy tương đối đầy đủ sau đây: 

 “Thực ra vào thời kỳ này, các giáo sĩ người nước ngoài ở Việt Nam thường dùng thuyền buồm để đi lại hoặc cho người qua lại Hong Kong, Singapore, Mã Lai (chủ yếu là Poulo Pinang, nơi có Chủng viện miền Đông Nam Á). Do đó việc Nguyễn Trường Tộ được các giáo sĩ người Pháp, đặc biệt là Giám mục Gauthier (về Xã Đoài nhận nhiệm vụ từ năm 1846), tạo điều kiện cho qua Hong Kong, Singapore, Poulo Pinang... là điều có thể có.

Điều chắn chắn là cuối năm 1858, Nguyễn Trường Tộ đã cùng với Giám mục Gauthier vào Đà Nẵng tránh nạn "phân tháp" rồi đầu năm 1859, sang Hong Kong...

Hầu hết các tác giả, kể cả Nguyễn Trường Cửu, đều nói là từ Hong Kong, Giám mục Gauthier đã đem Nguyễn Trường Tộ sang Pháp, sang Roma vào chầu Đức Giáo chủ Pio IX. Nhưng nay thì chúng ta biết rõ rằng trong những năm 1859-1860, Giám mục Gauthier không về Pháp. Trong thư của người quản thủ Kho lưu trữ của M.E.P đề ngày 1-12-1971, có quả quyết là trong những năm 1859 - 1860, Giám mục Gauthier không về Pháp. (Xem C.V.P., tlđd, trang 259).

[...]

Sự thực là với tài liệu hiện có, chúng ta không biết chắc được là trước năm 1861, Nguyễn Trường Tộ có đi sang các nước Tây Âu để tìm tòi học hỏi hay chỉ quanh quẩn ở các nước Đông Nam Á như Hong Kong, Mã Lai... là những nơi có cơ sở hậu cần lớn của Hội Truyền giáo Nước ngoài của Paris...

Có lẽ như ông Đào Duy Anh nói, nếu Nguyễn Trường Tộ có đi châu Âu những năm 1859 - 1860, thì cũng do sự gởi gắm của Giám mục Gauthier và chủ yếu là với Hội Truyền giáo Nước ngoài của Paris. Thế nhưng trong thư từ của Giám mục Gauthier viết trong thời kỳ này được lưu trữ tương đối nhiều ở Kho lưu trữ của Hội không thấy nói gì tới vấn đề này và cũng không có dấu vết gì về Nguyễn Trường Tộ tại đó. Hơn nữa, nếu Nguyễn Trường Tộ có đi Pháp thì sớm nhất là giữa năm 1859 mới tới nơi và khó có thể có mặt ở Hong Kong đầu năm 1861 để cùng với Giám mục Gauthier trở về Sài Gòn, theo yêu cầu của Đô đốc Charner, viên chỉ huy được giao trách nhiệm gom quân để mở rộng vùng chiếm đóng ở Sài Gòn. Một điều đáng lưu ý nữa là trong các văn bản gởi Triều đình Huế trước năm 1867, tức trước chuyến đi công cấn châu Âu với Giám mục Gauthier, Nguyễn Trường Tộ thường nói về nước Pháp và châu Âu một cách rất chung chung, không thấy có kỷ niệm hay nhận xét nào cụ thể. Trái lại, trong các văn bản được viết từ năm 1867, ông nói đến những người cụ thể ông đã gặp hay những nơi cụ thể ông đã tới.

Nói tóm lại là ngoài vốn liếng về Hán học, Nguyễn Trường Tộ đã sớm tiếp xúc với văn hóa Tây phương, trước tiên có thể là qua các giáo sĩ thừa sai người Pháp, chủ yếu là Giám mục Gauthier. Nguyễn Trường Tộ cũng đã có dịp đi ra nước ngoài, nếu không qua các nước Tây Âu, thì cũng qua các nước Đông Nam Á, nơi đây ông đã được đọc các sách báo của Tây phương, bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và nhất là đọc các sách báo Tây phương đã được dịch ra tiếng Trung Quốc. Theo ông Đào Duy Anh và những người đã tới tham khảo các tài liệu tại nhà của con cháu Nguyễn Trường Tộ ở làng Bùi Chu, thì trong tủ sách của Nguyễn Trường Tộ có rất nhiều quyển sách bằng chữ Hán thuộc loại Tân thư. Nhờ đó mà vào đầu năm 1861, Nguyễn Trường Tộ đã có được một số kiến thức khá rộng lớn về khoa học kỹ thuật cũng như khoa học xã hội của Tây phương”. (Trương Bá Cần, Sdd. Tr.21 & 22).

Qua đoạn trích trên ta có thể kết luận chuyện Nguyễn Trường Tộ đi châu Âu sau năm 1858 chưa thể khẳng định được, trình độ tiếng Pháp của ông bình thường, ông không đủ trình độ tiếng Pháp để làm thông ngôn, ông mởi chỉ là người dịch những tài liệu chữ Hán cho Pháp mà thôi.

3.Từ Điển Bách Khoa Việt Nam viết: Nguyễn Trường Tộ  “Năm 1861, về nước làm phiên dịch tiếng Pháp cho nhà Nguyễn”.

Tôi không rõ nhà sử học nào là tác giả mục từ Nguyễn Trường Tộ viết câu văn xanh rờn nầy. Như trên đã dẫn, linh mục Nguyễn Trường Tộ được Giám mục Gauthier dạy chữ Pháp, cùng đi với thầy vào Đà Nẵng đón đoàn quân viễn chinh Pháp (1858), thúc đẩy quân Pháp đánh Kinh đô Huế không thành phải chạy trốn ra nước ngoài (1859). “Đến khi Đại đồn (đồn Chí Hòa, Gia Định) thất thủ là đầu năm 1861, Nguyễn Trường Tộ đã về làm việc ở Suý phủ ở Gia Định” (ĐDA, bdd trên). Bất cứ người nào đã từng đọc tiểu sử của Nguyễn Trường Tộ trên sách báo, dù ngắn dù dài đều biết chuyện Nguyễn Trường Tộ từ nước ngoài về làm việc cho Pháp ở Gia Định. Nguyễn Trường Tộ làm việc cho địch tại sao lại viết ông làm việc cho ta? Năm 1861 Nguyễn Trường Tộ dịch chữ Hán cho Pháp, không phiên dịch tiếng Pháp gì cho nhà Nguyễn đã đành, mà suốt 10 năm sau đó Nguyễn Trường Tộ cũng chưa bao giờ dịch tiếng Pháp gì cho nhà Nguyễn cả. Tôi không thể tưởng tượng Hội đồng biên soạn Từ Điển Bách Khoa Việt Nam lại chấp nhận được một thông tin địch hóa ra ta như thế. 

4. Mục từ Nguyễn Trường Tộ trong Từ Điển Bách Khoa Việt Nam bỏ qua việc nhà Nguyễn cử Nguyễn Trường Tộ đi Pháp với Giám mục Gauthier năm 1867.

Sách Đại Nam Thực Lục của QSQTN, (Bản dịch của Viện Sử học, Tập VII, Nxb Giáo Dục, HN. 2007, tr.1012) ghi:

Tháng 8 Tự Đức thứ 19 (1866) “Sai Giám mục nước Phú Lãng Sa là Hậu (tức Ngô Gia Hậu-Gauthier) cùng với đồ đệ là lũ Nguyễn Trường Tộ , Nguyễn Điều sang nước Tây thuê thợ và mua máy móc”.

Thời gian Nguyễn Trường Tộ công cán ở Pháp đến 8 tháng (3-1867-11-1867). Thầy trò ông đã mua được các thứ:

Sách nói về quặng sắt, về địa chất, về mỏ than, về bách nghệ cơ xảo, về quặng đồng, thước tam giác, bản đồ địa lý, địa chất, hai bộ thủy thư, một bộ kỷ hạn nghi (dùng đo vĩ độ...).

Sách thiên văn, sách về chính trị nước Pháp, nhiều loại thước và tự điển tiếng Pháp. Cọng chung tốn hết 1.266 quan.

Tiền mua một số dụng cụ khác chưa đem về được. Phí tổn: 1.055 quan.

Tiền ăn ở của hai phái viên của Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier cộng với tiền chuyên chở khuân vác và đóng thùng: 2.799,148 quan.

Tổng cộng cả ba khoản trên là: 5.120,148 quan. (Lược trích TBC, Sdd, tr. 467 & 468).

Khi đoàn công cán của thầy trò ông về đến Kinh đô Huế được triều Nguyễn ban thưởng rất hậu.

Những vật dụng vua ban thưởng cho phái bộ đi mua máy và thuê bốn giáo chức.

Kê khai:

-Cấp cho Ngô Gia Hậu các vật hạng như sau: Một tấm Ngũ phúc kim tiền nặng 5 đồng cân (có tua); Mười tấm Ngân tiền (Hạng Song Long: đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm; hạng Triệu dân: đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm; hạng Ngũ phúc, Tam thọ mỗi thứ một tấm), cộng lại nặng ba lượng, năm đồng cân, năm phân; Một cuộn tố đoạn bằng năm loại tơ màu đen để may áo dài chật tay (Có một đoạn lụa bóng màu lục để lót trong); Một xấp huyền lương sa Bửu lam nam hoa; Một xấp sa có vân Nam tố tuyết bạch; Một xấp lụa Tuyết bạch.

- Xin xét cấp cho Nguyễn Trường Tộ các vật hạng như sau:

Một tấm Tứ mỹ kim tiền nặng bốn đồng cân (có tua); Năm tấm ngân tiền (Hạng Sứ dân: đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm; hạng Ngũ phúc, hạng Tam thọ mỗi thứ một tấm), cộng lại nặng một lượng năm đồng cân năm phân; Một cuộn tơ lông màu lam để may áo dài chật tay (Có một đoạn lụa màu xanh để lót trong); Một xấp lương sa Bửu lam nam tố; Một xấp trừu Tuyết bạch nam hoa; Một xấp lụa Tuyết bạch.

- Xin xét cấp cho ba tên: Đạo trưởng tên Điều, đạo đồ tên Hoằng và tên Vị như sau:

Nhị thắng kim tiền mỗi tên một tấm, mỗi tấm nặng hai đồng cân (có tua); Ngân tiền mỗi tên bốn tấm (hạng sứ dân: đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm, hạng Ngũ phúc, hạng Tam thọ mỗi thứ một tấm) mỗi phần cộng lại nặng một lượng ba đồng cân năm phân; Nam tố lương sa màu đen, mỗi tên một xấp; Tơ lông màu lam (Châu phê: Hoặc màu đen huyền cũng được) mỗi tên một đoạn (thành một cái áo tay chật, có một đoạn lụa xanh lót trong); Lụa Bạch tuyết mỗi tên một xấp; Một xấp vải tây dày mịn Bạch tuyết hạng nhì (Chia làm ba mỗi tên một đoạn).

- Xin xét cấp cho ba tên linh mục giáo sĩ: Tam thọ kim tiền mỗi tên một tấm (Châu phê: Cấp cho tên Ca Xanh ba tấm ngân tiền nầy. Châu phê: Cấp cho ba người ngân tiền hạng Sứ dân: đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm) mỗi tấm nặng ba đồng cân (có tua).

- Xin xét cấp cho bọn tùy tùng của Ngô Gia Hậu bốn tên, mỗi tên một tấm Long văn ngân tiền hạng nhỏ (mỗi tấm nặng ba đồng cân). (Theo Tờ tấu của Cơ Mật Viện triều Tự Đức ngày 4-3-1868, trích lại của TBC, Sdd. , tr. 459-460).

Trưng dẫn sự kiện trên để thấy nhà Nguyễn triều Tự Đức cũng biết chiêu hiền đãi sĩ, cũng quý trọng khả năng của Nguyễn Trường Tộ  và các thầy và đồng sự của ông. Từ Điển Bách Khoa Việt Nam không nêu sự kiện nầy là vô tình đứng về phía Thiên chúa giáo chê trách triều Nguyễn bảo thủ không biết trọng dụng người tài Nguyễn Trường Tộ để canh tân đất nước. 

5. Từ Điển Bách Khoa Việt Nam viết: “Thời gian này, Nguyễn Trường Tộ đã dâng bản điều trần “Tám điều cấp cứu” (Tế cấp bát điều) như cần gấp rút chấn chỉnh võ bị, bộ máy hành chính, tài chính, học thuật, thuế điền thổ.. nhưng triều đình nhà Nguyễn đã khước từ các đề nghị của ông”

Có lẽ vì hạn chế số từ trong một mục từ (?) nên người biên soạn mục từ Nguyễn Trường Tộ chỉ dẫn 5 điều và đã bỏ qua 3 điều. Đó là Điều 6: Xin sửa sang lại biên giới; Điều 7: Xin nắm rõ lại nhân số; Điều 8: Xin lập viện Dục Anh (viện nuôi dưỡng mồ côi) và trại tế bần (trại cứu giúp những người nghèo).

Nguyễn Trường Tộ viết Tế cấp bát điều vào ngày 15-11-1867, viết trong thời gian ông cùng Giám mục Gauthier và Nguyễn Điều đang ở bên Pháp (3-1867-11-1867) lo “thuê thợ và mua máy móc” cho triều Nguyễn. Không rõ Tế cấp bát điều đến tay vua Tự Đức vào lúc nào và bị “khước từ” ra sao. Căn cứ vào lịch sử những năm 1866, 1867 triều Nguyễn đang đối phó với những sự kiện “thù trong giặc ngoài” vô cùng khốc liệt.

“Thù trong” là vụ biến động do anh em Đoàn Trưng-Đoàn Trực cầm đầu chỉ huy lính thợ xây Khiêm Lăng ban đêm kéo về Kinh làm “đảo chánh”, vua Tự Đức suýt mất mạng (16-9-1866); “giặc ngoài” thực dân Pháp đánh chiếm xong 3 tỉnh miên Tây, toàn bộ  lục tỉnh Nam Kỳ thuộc quyền cai trị của Pháp. (Kể từ 25-6-1867). Và biết bao chuyện rắc rối khác nữa đã làm cho vua quan triều Nguyễn mát ăn mất ngủ, họ còn đầu óc đâu mà thực hiện Tế cấp bát điều của Nguyễn Trường Tộ!

Giả như triều Nguyễn muốn thực hiện Tế cấp bát điều thì có điều không tưởng không thể thực hiện được hoặc có điều thực hiện thì để lại hậu quả vô cùng tai hại  cho dân tộc Việt. Đơn cử hai nội dung trong Tế cấp bát điều sau đây:

5.1.Điều thứ tám trong 8 điều Nguyễn Trường Tộ đề nghị phải làm gấp là lập Viện Dục Anh và Trại Tế Bần. Nguyễn Trường Tộ dẫn điển tích vua Nghiêu vua Thuấn nhờ giúp đỡ hạng người nghèo khổ, người cô độc nên được thiên hạ ca tụng là người đạo đức. Cách trình bày của Nguyễn Trường Tộ rất hợp nhân đạo lúc nuôi dưỡng những trẻ mồ côi. Tuy nhiên hãy nghe Nguyễn Trường Tộ thuyết minh về việc lập trường và nuôi dưỡng trẻ mồ côi sau đây: 

Nếu Triều đình cho rằng việc nầy nên làm thì sẽ nhờ các giám mục mời người đến, mở mỗi tỉnh một nhà nuôi trẻ, không bao lâu sẽ thấy kết quả ngay. Giả như các giám mục có giao ước trước một cách rõ ràng rằng: “Nếu các trẻ mồ côi lớn khôn sẽ được mang về Tây làm dân bên ấy. Tôi nghĩ rằng những trẻ mồ côi của ta không người nuôi nấng sớm muộn cũng chết thì để họ nuôi lấy cũng được”. (TBC,tr. 276).   

Thử hỏi nhờ giám mục đưa người của giám mục đến nuôi dạy trẻ mồ côi, người của các giám mục là ai? Chắc là các bà xơ. Các bà xơ nuôi dạy bọn trẻ mồ côi những gì? Chắc chắn là giáo lý đạo Thiên chúa. Bọn trẻ mồ côi đó sẽ trở thành những tay chân của các giám mục, các linh mục? Mở viện Dục Anh để đào tạo người cho Thiên chúa giáo làm sao triều Nguyễn có thể chấp nhận được?

Như thế chưa vừa, Nguyễn Trường Tộ còn xúi triều Nguyễn yêu cầu các giám mục cam kết đem bọn trẻ mồ côi ấy qua Tây để “làm dân bên ấy”. Nếu các giám mục thực hiện được viêc ấy, bọn trẻ mồ côi sẽ trở thành dân Tây, trở thành các linh mục Tây gốc Việt và sẽ trở lại Việt Nam góp phần mở rộng nước Chúa như Nguyễn Điều, Nguyễn Hoằng trước đó. Triều Nguyễn nghe lời điều trần của Nguyễn Trường Tộ tiếp tay cho các giám mục đào tạo người chống lại mình được sao? 

Thử hỏi ngày nay đất nước độc lập, thanh bình, giao hảo với cả nhân loại, chính phủ Việt Nam có dám cho Thiên chúa giáo mở những viện Dục Anh qui tụ trẻ mồ côi và đưa chúng đi Tây làm dân Tây như thế không? Chắc chắn không ai dám. Trẻ mồ côi không nơi nưong tựa, chính quyền đã có nhà tế bần từ lâu, những người quản lý các nhà tế bần làm việc chưa tốt thì tìm cách tổ chức cho họ làm tốt chứ cớ sao lại đem con cháu mình giao cho kẻ đang theo đuổi mục tiêu thôn tính mình? Triều thần thời Từ Đức có “hủ nho” đến đâu họ cũng đã thấy được ý đồ nguy hiểm của Nguyễn Trường Tộ mà từ khước điều trần mở viện Dục Anh của ông. Ngày nay viết Từ Điển Bách Khoa Việt Nam phải khen vua quan Triều Nguyễn chứ sao lại chê trách họ? Ta viết Từ Điển Bách Khoa Việt Nam cho ta hay Thiên chúa giáo viết cho ta?

5.1. Đào một con kênh từ Hải Dương, gần Hải Phòng, đến kinh đô Huế.

Trong điều thứ 6, “sửa sang lại cương giới”, Nguyễn Trường Tộ thuyết minh về những điều lợi trong việc đào thêm kênh rạch. (TBC.tr.261), trong phần kết của Tế cấp bát điều ông đưa ra một đề nghị “Từ Hải Dương đến Kinh đô đào một con kênh lớn có thể lưu thông được tất cả ghe lớn ghe nhỏ thuyền quan thuyền dân, rồi cắt trạm thu thuế” (TBC, tr.280). Trên thực địa từ Hải Dương vô đến Huế ít nhất cũng phải dài đến 800 hoặc 900 Km.

Với dân số Việt Nam hơn 85 triệu người, với vốn liếng ODA triệu triệu USD và máy móc tối tân, đất nước thanh bình như ngày nay, thử hỏi nước ta có thể thực hiện đươc đề xuất “tâm huyết” ấy của Nguyễn Trường Tộ hay không? Chắc chắn là không. Thử hỏi cách đây 142 năm (2009-1867) nước Đại Nam dưới triều vua Tự Đức: Nam Kỳ đã mất vào tay Pháp, dân số còn lại chưa được 1/8 ngày nay; phương tiện chỉ có cuốc cán tre, nông dân làm không đủ ăn, giáo dân dựa vào thế lực của cha cố không nạp thuế, ngôi vua ở Kinh đô suýt  bị  cướp...triều Nguyễn làm sao có thể thực hiện được những ý tưởng “vĩ đại” viễn vông đến như thế của Nguyễn Trường Tộ? Giả thử triều Nguyễn thực hiện việc đào kênh Hải Dương - Huế thì tình hình Việt Nam sẽ xảy ra như thế nào?

- Ngân sách nhà nước cạn kiệt, thanh niên lao động bị trưng đi đào kênh, không có người đi bộ đội chống Pháp, dân tình đói khổ, nông dân, nhất là nông dân có đạo Thiên chúa sẽ nổi loạn và chắc chắn sẽ dữ dội gấp trăm lần so với cuộc biến động của lính thợ xây dựng Khiêm Lăng năm 1866. Hồi đó thực dân Pháp ở Nam Kỳ không cần phải đem quân ra đánh, chỉ cần các giám mục, linh mục cỡ như Giám muc Trần Lục ở Bùi Chu-Phát Diệm hô một tiếng, nước Đại Nam nhanh chóng sẽ trở thành một nước Chúa của thực dân Pháp ở Viễn Đông. Nếu Nguyễn Trường Tộ vận được triều Nguyễn chỉ khởi đào con kênh ấy là ông sẽ trở thành thánh của đạo Thiên chúa rồi. Không may cho ông là triều đình nhà Nguyễn lúc đó cho dù gồm toàn “hủ nho” (như có nhà nghiên cứu nói) họ cũng có thể thấy được tình thế ấy nên đã từ khước “Tế cấp bát điều” của Nguyễn Trường Tộ.  Nếu xảy ra tình hình ấy thì có lẽ tên nước Việt không còn nữa mà là nước Mathiette, Phaliette, Georgine hay gì gì đó như nước Philippine ngày nay. May mắn cho dân tộc ta triều Nguyễn đã “khước từ” Tế cấp bát điều. Thế có gì mà Từ Điển Bách Khoa Việt Nam chê trách?

 Chỉ góp ý với một mục từ Nguyễn Trường Tộ không thôi mà đã phanh phui ra bao vấn đề sai trái của Nguyễn Trường Tộ. Với những sai trái trình bày trên cũng đủ thấy Nguyễn Trường Tộ không thể là một “Sĩ phu yêu nước Việt Nam” như Từ Điển Bách Khoa Việt Nam đã viết. Huống chi hơn mười năm qua các nhà nghiên cứu gốc Việt ở nước ngoài với những tài liệu khả tín viết bao nhiêu sách nói về sự lừa dối hào nhoáng của Nguyễn Trường Tộ mà tác giả viết mục từ Nguyễn Trường Tộ không hề hay biết. Để Từ Điển Bách Khoa Việt Nam xứng đáng là một cẩm nang tra cứu quốc gia tôi đè nghị viết lại mục từ Nguyễn Trường Tộ. 

Huế, Gác Thọ Lộc,  2-2009

Nguyễn Đắc Xuân

 

Phụ lục

Dẫn chứng một số sách người Việt ở nước ngoài viết về Nguyễn Trường Tộ hoặc có liên quan đến lịch sử các Thừa sai Thiên chúa giáo quan hệ với thực dân Pháp đánh chiếm Đà Nẵng (Việt Nam) :

Bùi Kha, Nguyễn Trường Tộ  sau bức màn canh tân, Giao Điểm (Nam Cali), Xuân 2004

Bùi Kha-Trần Chung Ngọc, Nguyễn Trường Tộ một sự lừa dối hào nhoáng, Giao Điểm (Nam Cali), 6-2002;

Cao Huy Thuần, Les Misionnairres Et La Politique Coloniale Francaise Au Vietnam (1857-1914), Council on Southeast Asia Studies, Yale Centẻ Fỏ International and  Area Studíe, 1990;

Cao Huy Thuần, Giáo Sĩ Thừa Sai và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp Tại Việt Nam (1857-1914), Nxb Tôn Giáo, Hà Nội 2002;

Lê Trọng Văn, Nguyễn Trường Tộ con người và sự thật, Y.N. (Hoa Kỳ) 1998


[1] Hội đồng chỉ đạo biên soạn TĐBKVN, Từ  Điển Bách Khoa Việt Nam, tập 3, Hà Nội 2003, tr. 188

 

 
 
Các bài Phản biện khác