Bàn thêm để khẳng định: Quốc hiệu Việt Nam ra đời năm Giáp Tý (1804)
Quốc hiệu “Việt Nam” có từ năm Giáp Tý, Gia Long thứ III (1804), là vấn đề từng được Trần Trọng Kim, tác giả Việt Nam sử lược, nói rõ (1) từ những năm 1920. Vừa rồi PTS. Đỗ Bang (khoa Sử ĐHTH Huế), trong bài viết Quốc hiệu Việt Nam có tự bao giờ?(Thế Giới Mới, số 92, 1994), lại cho rằng: “Tên gọi hai tiếng Việt Nam đã xuất hiện khá sớm trong các thư tịch cổ và văn bia, cách đây đã 5 thế kỷ. Nhưng chính thức có quốc hiệu Việt Nam là năm 1792, dưới thời vua Quang Trung. Tên gọi đó đã được xác lập trong lịch sử, chứ không phải bắt đầu từ năm 1804 dưới triều vua Gia Long như bấy lâu chúng ta vẫn lầm tưởng”. Khám phá của PTS. Đỗ Bang liền bị ông Nguyễn Phúc Giác Hải bác bỏ với bài viết Một số suy nghĩ về tờ chiếu đổi tên nước năm Giáp Tý (1804) (Tạp chí Xưa và Nay của Hội Sử học Việt Nam). Tuy nhiên bài của ông Giác Hải chưa nói hết hoàn cảnh ra đời của quốc hiệu Việt Nam. Nhân có cuộc tranh luận nầy, tôi xin góp thêm một số ý kiến để làm sáng tỏ vấn đề đang được quan tâm.

 

 

QUỐC HIỆU VIỆT NAM ĐÃ ĐƯỢC XÁC LẬP (NĂM 1792) TRONG SỬ LIỆU NÀO?

PTS. Đỗ Bang cho biết, nó được xác lập trong tờ chiếu ghi “Giáp Tý xuân, Phụng Nghĩ Tân kiến quốc hiệu tuyên cáo” (Mùa xuân năm Giáp Tý, vâng mệnh vua soạn thảo bản tuyên cáo về Quốc hiệu mới), tờ bản thảo này được lưu trong Dụ Am văn tập của Phan Huy Ích (1750-1822), mang số hiệu A.604. đệ ngũ sách, tờ 24 và 25 của Viện Hán Nôm. Khi viết về Dụ Am văn tập, sách Di sản Hán Nôm Việt Nam (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993) cũng đã đề cập đến tờ chiếu (dự thảo) năm Giáp Tý này. Sự khẳng định của Đỗ Bang không đứng vững được vì: Phan Huy Ích là trọng thần thời Tây Sơn, nhưng ông cũng sống hết đời Gia Long (1802-1820). Ông không làm quan triều Nguyễn, nhưng con ông là Phan Huy Chú là người đã đem hết tài liệu trong gia đình ông, đem hết tâm huyết của một học giả lỗi lạc ra phục vụ nhà Nguyễn. Nhân có việc đổi tên Quốc hiệu “ngứa tay ông ngồi dự thảo một cái chiếu để đời chơi có sao đâu!? Dĩ nhiên, cái dự thảo ấy (nếu có) không được dùng, con ông lưu lại trong di cảo của ông cũng được chứ! Mà cũng có thể một người nào đó viết và người đời sau xếp nhầm vào di cảo của ông. Bởi vì như các soạn giả Di sản Hán Nôm Việt Nam cho biết, trong quyển 8 của Dụ Am văn tập có nhiều tư liệu khác nhau của các tác giả khác! Biết đâu tờ chiếu dự thảo này nằm trong trường hợp đó? Ta chưa tìm được tài liệu để chứng minh nhưng có thể suy luận như thế. Do đó, không thể khẳng định cái gì Phan Huy Ích viết đều trăm phần trăm là để phục vụ nhà Tây Sơn. Tờ chiếu (dự thảo) năm Giáp Tý không có cơ sở để có thể tin là của thời Quang Trung. Vua Quang Trung băng hà năm Nhâm Tý (1792), 12 năm sau (Giáp Tý) tờ chiếu dự thảo ấy mới được viết. Do đó không thể dựa vào nó để khẳng định Quốc hiệu Việt Nam đã có từ năm 1792 (cuối đời Quang Trung).

Căn cứ trên văn bản do chính PTS. Đỗ Bang trích và chúng tôi cũng in kèm theo đây bản chụp, thì năm Giáp Tý không thể là năm 1792, vì 1792 là năm Nhâm Tý, năm vua Quang Trung qua đời. Giáp Tý phải là năm 1804. Bởi vì năm Canh (âm lịch) ứng với năm dương lịch có số cuối cùng là 0, Tân-1, Nhâm-2, Quý-3, Giáp-4, Ất-5, Bính-6, Đinh-7, Mậu-8, Kỷ-9. PTS. Đỗ Bang ghi năm giáp Tý là 1792. Vì nhầm chỗ này mà chuyển đổi Quốc hiệu Việt Nam của vua Gia Long trở thành của vua Quang Trung.

MỘT ÍT SỬ LIỆU

Về sự kiện vua Gia Long đổi quốc hiệu Việt Nam năm Giáp Tý (1804), được hầu hết các cuốn sử quan trọng của Triều Nguyễn ghi chép đầy đủ. Trong bài viết của mình, PTS. Đỗ Bang có trích dẫn một đoạn trong Đại Nam hội điển sự lệ (trong TGM in là Đại Nam hội điển sử lệ- nghĩa của hai chữ sự lệsử lệ hoàn toàn khác nhau). Bộ sách này chép những điển lệ (luật lệ) của triều Nguyễn, xem đó những mẫu mực phép tắc cần phải noi theo chứ không phải là một cuốn chính sử. Cuốn biên niên sử chính thức của Triều Nguyễn là bộ Đại Nam thực lục tiền biên và chính biên (được Viện sử học Việt Nam dịch và in thành 38 tập). Để tiên sử dụng, nhà Nguyễn đã cho tóm tắt bộ sử này thành bộ Quốc triều chánh biên toát yếu; năm 1969, nhóm nghiên cứu Sử Địa Việt Nam ở Sài Gòn đã dịch và xuất bản trọn bộ (một tập). Bộ chính sử tóm tắt này chép về sự kiện đổi tên nước Việt Nam năm giáp Tý như sau:

Năm Giáp Tý thứ III (1804), tháng Giêng, Ngài (vua Gia Long) trú tất ở hành cung Thăng Long. Sứ Tàu là Tế Bồ Sâm đến cửa Nam Quan. Lúc trước Ngài sai bọn Lê Quang Định sang cầu phong, lại xin đổi quốc hiệu. Trong Quốc thơ nói: “Mấy đời trước mở đất Viêm Giao, càng ngày càng rộng, bao gồm cả nước Việt Thường và nước Chân Lạp, đặt quốc hiệu là Nam Việt, truyền nối hơn 200 năm. Nay tôi lấy hết cõi Nam, có toàn cả đất Việt, nên theo hiệu cũ để chánh quốc danh. Vua Tàu nghĩ rằng hiệu Nam Việt cũng như Việt Đông, Việt Tây (Là Quảng Đông, Quảng Tây bây giờ) ý không ưng cho. Ngài đưa thơ bài bác hai ba lần, lại nói: Nếu không cho đổi quốc hiệu thời không cho thọ phong”. Vua Tàu sợ mất lòng nước ta, mới cho đặt hiệu Việt Nam…”.

Bản tóm tắt này đã lược mất các chi tiết quan trọng, chúng tôi xin được trích lại: “…lấy ngày 17 tháng 2 (Giáp Tý, 1804) kính cáo Thái Miếu, cải chính quốc hiệu là Việt Nam, để dựng nền lớn, truyền lâu xa, phàm công việc nước ta, việc gì liên quan đến quốc hiệu và thư từ báo cáo với nước ngoài, đều lấy Việt Nam làm tên nước, không được quan xưng hiệu cũ là An Nam nữa. Lại hạ chiếu báo cho các nước Xiêm La, Lữ Tống và các thuộc quốc Chân Lạp, Vạn Tượng…khiến đều biết cả” (Đại Nam thực lục chính biên, tập III, tr.170)

 Lĩnh ý nhà vua đi thương lượng với vua Tàu để đổi tên nước Việt Nam là một vinh dự của Lê Quang Định. Bởi thế, khi viết về tiểu sử của ông, sách Đại Nam liệt truyện đã chép: “Mùa đông năm ấy (1802), bàn việc thông sứ với  nước Thanh, (Lê Quang Định) được thăng Thượng thư bộ binh sung làm chánh sứ sang nước Thanh xin phong và nói Triều ta có cả đất An Nam, Việt Thường, bờ cõi không phải là ví như Trần Lê trở về trước, xin đổi hiệu cũ là An Nam, gọi là nước Nam Việt. Vua nước Thanh sai án sát sứ Quảng Tây là Tề Bố Sâm sang phong. Đổi quốc hiệu gọi là nước Việt Nam, bắt đầu từ Hoàng triều Gia Long” (bản dịch của NXB Thuận Hóa, Huế 1993, tập II, tr. 185)

         Ba sử liệu nêu trên cho phép chúng ta kết luận:

1. Có được quốc hiệu Việt Nam là kết quả của một cuộc đấu tranh ngoại giao gay go của vua Gia Long với vua nhà Thanh. Sở dĩ vua Thanh phải chấp nhận như vậy là nhờ uy thế của nước ta hồi đầu thế kỷ XIX. Vua Gia Long không thể mở một cuộc đấu tranh ngoại giao khó khăn như thế để cho một việc có từ thời vua Quang Trung và vua nhà Thanh cũng không phải nhún nhường trước một sự việc đã được chấp nhận từ trước.

2. Việc đấu tranh ngoại giao cho hai chữ “Việt Nam” khởi đầu từ mùa đông năm Nhâm Tuất (1802) nhưng phải đợi đến sau ngày 18-2 năm Giáp Tý (1804), cáo Thái Miếu xong, quốc hiệu Việt Nam mới được sử dụng ở nước ta. Mọi quan điểm khác với những sử liệu này đều là suy luận chứ không đúng với lịch sử.

3. Tờ dự thảo bản tuyên cáo về quốc hiệu mới soạn năm Giáp Tý (1804) được lưu trong Dụ Am văn tập của Phan Huy Ích có phải do chính Phan Huy Ích viết hay không, viết cho ai, hay của một người khác viết – vấn đề này không ảnh hưởng đến sự kiện: Quốc hiệu Việt Nam ra đời năm Giáp Tý (1804).

Chú thích

(1) “Khi vua thế tổ dứt được nhà Nguyễn Tây Sơn và lấy được đất Bắc Hà rồi, sai quan thượng thư Binh bộ là Lê Quang Định làm chánh sứ sang Tàu cầu phong và xin đổi quốc hiệu là Nam Việt, lấy lẽ rằng Nam là An Nam và Việt là Việt Thường. Nhưng vì đất Nam Việt đời nhà Triệu ngày trước gồm cả đất Lưỡng Quảng, cho nên Thanh triều mới đổi chữ Việt lên trên, gọi là Việt Nam cho khỏi lầm với tên cũ.” (Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Tân Việt, Hà Nội 1949, tr. 418)

Nguồn: T/c Thế Giới Mới, số 105/1994

Nguyễn Đắc Xuân

 

 

 
 
Các bài Phản biện khác