Giải khăn sô cho Nhã Ca Trần Thị Thu Vân - Bút ký Nguyễn Đắc Xuân - Phần 6
Để độc giả biết tôi đã làm gì trong Tết Mậu thân, biết tâm và trí của tôi đối với Huế quê tôi trong những ngày chiến tranh vô cùng ác liệt ấy tôi trích đăng một số bài viết của tôi đã xuất bản sau đây.

Vợ người đạo diễn không chuyên

Trích Hồi ký  Nguyễn Đắc Xuân

Suốt đêm thức trắng để chuẩn bị hầm hào sẵn sàng đánh Mỹ đến phản kích, sáng hôm sau trong người rất bải hoải, nhưng tôi không thể chợp mắt được. Đầu đau ran, hai tai nghe re re như đang đứng gần một cái máy vô tuyến điện đang vận hành. Tôi thèm được đi dạo một lúc hoặc đến thăm nhà một người bạn nói chuyện phiếm để giãn bớt không khí căng thẳng này. Thấy Phan đang quấn cái “ra” dù nằm bên cạnh cứ trở mình thở ra hoài, tôi đoán chừng Phan cũng có tâm trạng như tôi, tôi ngồi dậy nắm cái chéo ra dù kéo tuột xuống khỏi mặt anh.

 - Sắp đánh nhau, Phan cũng khó ngủ lắm phải không?

 - Ờ...ờ... nhưng không ngủ làm gì bây giờ?

 - Hay là ta nên tận dụng cái thời gian hòa bình hiếm có này đi thăm một vài nhà quen cho vui. Nằm mà không ngủ, suy nghĩ vẩn vơ yếu thần kinh đi đấy!.

 Thường ngày Phan rất nguyên tắc, giờ nào làm việc ấy, nói cái gì thì chắc chắn như đinh đóng cột, nhưng lần này thì anh cũng đồng tình với tôi.

- Phải đó. Nhưng đi đâu bây giờ?

 - Phan là thổ địa cái vùng này, tùy ông chọn.

Phan ngồi dậy, ngẩn người suy nghĩ một lúc rồi nói, giọng dè dặt:

 - Ta nên thăm vợ chồng Thi - Túy. Nghe nói dạo này hai cô cậu được sống với gia đình êm ấm lắm. Gặp bọn mình chắc họ rất vui!

 - Phải. Mình sẵn sàng

Thế là chúng tôi lặng lẽ ra khỏi cái trụ sở ở nhà bưu điện cạnh cửa Đông Ba. Phải nói là trốn đi mới đúng. Vì nếu anh em biết chúng tôi đi thì, hoặc họ gọi tôi trở lại tiếp tục ngủ hoặc anh em bỏ ngủ ào ào chạy theo. Đi dọc con đường Mai Thúc Loan đến ngã tư Âm Hồn chúng tôi rẽ về phía tay trái. Nhà Thi nằm sâu trong một cái kiệt. Đây là một vùng trung tâm thành phố nhưng rất đặc biệt. Nhà ai cũng có vườn, rào dậu kín đáo. Không biết bên trong người ta trồng những loại hoa cỏ gì mà tôi mới bước vô đầu kiệt một mùi hương dìu ngọt như mùi táo chín đã bay đến mũi tôi. Tôi bỗng nhớ đến cái tuổi lên năm hay chui hàng rào hóp bẻ măng vòi. Một không khí hòa bình tĩnh mịch lạ thường. Ai qua đây vương vấn mùi hương này họ không thể nghĩ được bên kia địa cầu tổng thống Mỹ Johnsơn lại đang hò hét giơ cao nắm đấm thúc giục bọn lính Mỹ phải dùng mọi biện pháp để “đẩy lui quân Cộng sản ra khỏi Cố đô Huế” và ngoài khu vực cửa Đông Ba cách đây không đầy một cây số, bộ đội mặt quân phục màu đất cùng với thanh niên, đồng bào Huế hì hục đào hào, đắp ụ quyết tâm chiến đấu để bảo vệ quyền làm chủ quê hương xinh đẹp của mình.

Ngôi nhà Thi núp dưới tàn một cây nhãn. Nhà vách xây, lợp tôn, tường quét vôi hồng xinh xắn. Vì xây trên đất thuê nên nó không có sân. Từ đường kiệt lách qua một cánh cửa đan bằng dây kẽm gai có thể bước lên đứng trên thềm nhà được. Ngôi nhà nhỏ nhưng gia đình biết tổ chức nên cũng có nhà bếp, phòng ngủ, phòng khách. Nền nhà lau chùi sạch sẽ, đồ đạc trong nhà sắp xếp gọn gàng. Một người lạ đến, khi mới bước vô tới thềm nhà đã có cảm tình ngay. Và nếu khách có đôi chút tinh đời họ có thể đoán trong ngôi nhà ấy chắc có hai quả tim vàng.

Khi chúng tôi vào thì hai vợ chồng Thi - Túy đang hạ mấy chồng sách để trên cao xuống. Đề phòng bị bom pháo quạt bay mất mà! Thấy chúng tôi, cả hai người chạy ra, miệng reo lên:

  - A, anh Xuân, anh Phan! Sao hôm nay rảnh được mà quá bước đến đây rứa?

 Phan đáp giọng khù khù khì khì:

 - Về đây để đánh Mỹ mà Mỹ chưa chịu tới thì đánh ai bây giờ mà không rảnh?

Vừa nói, chúng tôi vừa theo chân hai người vào phòng khách. Nắng xuân chiếu nương theo kẽ lá vương vấn dưới chân chúng tôi. Phòng khách nhỏ nhắn, chung quanh tường đầy sách báo được sắp xếp thứ tự. Giữa phòng có kê một bộ xa lông thấp thấp đóng bằng gỗ thùng két. Trên chiếc bàn hình chữ nhật rộng bằng hai cái khay trải môt tấm vải thô xanh đậm - thứ vải đồng bào miền  núi hay cắt may áo. Có lẽ mấy hôm trước ở đây có để một lọ hoa mai nên trên mặt bàn còn vương vãi dăm cánh vàng đã héo

Túy để cho chồng tiếp chúng tôi. Cô loay hoay mở cái tủ búyt-phê để chắn ngang giữa phòng ngủ và phòng khách, lấy ra một hộp mứt:

 - Mồng một tết bạn bè sợ đạp đất năm mới không dám đến. Không ngờ mồng hai các anh về. Rất hân hạnh mời hai anh ăn thử mấy món mức chính tay em làm đây!

Trông cảnh ung dung của vợ chồng Thi và sự tỉnh táo của chúng tôi, không ai nghĩ rằng chiến tranh đang đứng ngoài ngõ. Sau vài câu xã giao, Túy lặng lẽ lách mình ra sau cái tủ buýt-phê đi xuống nhà bếp. Chúng tôi cầm cái nĩa nhựa nhỏ xíu xóc từng lát mứt lai rai ăn:

 -  Ông bà ở Đà Lạt về khi nào? - Tôi hỏi

 - Chúng tôi mới về được một năm - Ngồi đối diện với tôi Thi đáp. Bỗng anh quay người như tìm ai rồi tiếp - Lúc cháu Phượng Thi mới được sáu tháng - Thi hất hàm nói vọng vô phòng trong, gọi - Phượng Thi đâu không ra chào các bác, con!

   Có tiếng guốc lẹp kẹp chạy ra, nghe như tiếng sanh. Một cháu bé hồng hào thu mình trong một bộ áo luôn quần đan bằng len vàng, trên đầu cháu quấn cái khăn phu-la hai chéo quàng ra sau cổ, ngúng nguẩy chào chúng tôi rồi ngã mình vào lòng Thi. Thi vỗ vỗ vào lưng con, giới thiệu với cái giọng tự hào kín đáo:

 - Tác phẩm đầu tay của chúng tôi đây các anh. Cháu ngoan lắm. Chỉ tội trở trời cháu hay lên cơn hen và ngủ hay giật mình. Hôm nghe súng nổ dữ dội ở ty Chiêu chồi, cháu sợ quá cứ nép đầu vào lòng mẹ!

Tôi cầm bàn tay bụ bẫm của đứa bé và kéo cháu sang phía mình, đặt lên đầu cháu một cái hôn. Một mùi thơm trìu mến dễ chịu phả vào mặt tôi. Một ý nghĩ nảy ra trong tâm trí tôi: Mỹ đến phải bắt trẻ con như thế này xuống hầm thật tội nghiệp.

Thi nhìn tôi hôn cháu Phượng Thi, đôi mắt anh long lanh, môi anh mấp máy như muốn nói một điều gì mà hình như sợ tôi động lòng nên lại thôi. Lúc tôi buông đầu cháu bé ra, Thi nói:

 - Anh không đi ... chắc cũng có cháu bằng chừng ấy rồi. Mong sao đất nước có hòa bình để cho tất cả bạn bè lứa tuổi bọn mình có hạnh phúc hết!

Phan nhìn cháu Phượng Thi, nét mặt anh thoáng môt nỗi buồn xa xăm. Có lẽ anh đang nhớ đến đàn cháu đông đảo của mình vì bị địch khủng bố nên cha mẹ cháu phải tha phương cầu thực tận đất Sài Gòn. Anh nắm tay cháu bé rồi bồng xốc cháu lên nựng nựng:

  - Cũng vì tương lai của tụi nhóc này mà thế hệ của mình phải gian lao. Đã khổ thì khổ cho luôn để các cháu lớn lên mãi mãi được sống trong hòa bình!

 - Ai cũng mong như thế - Thi tiếp lời Phan - Nhưng không rõ đời con chúng ta đã được hưởng hòa bình chưa?

- Cái đó còn phải tùy vào quyết tâm chiến đấu của chúng ta hôm nay! - Tôi góp ý với Thi

Túy khệ nệ bưng ra một cái khay có để bốn cái tách sứ màu ngọc với bốn cái phin cà-phê sáng bóng chồng lên trên. Cô vừa đặt tách trước mặt chúng tôi vừa vuốt mấy sợi tóc mây lòa xòa xuống khuôn mặt hồng hào, cô nói một cách ý nhị:

 - Ngày tết nên uống rượu, nhưng em muốn hai anh nhớ lại một chút không khí ấm cúng thời sinh viên. Mời hai anh dùng một tí cà-phê:

 - Đúng đấy! Phan mau miệng nói - Mấy hôm nay bà con cho ăn uống không thiếu một thứ gì, chỉ thiếu một tách cà-phê nóng thôi.

Đặt tách xong, Túy xoa xoa hai bàn tay vào nhau rồi đến ngồi bên chồng. Hai vợ chồng thật xứng đôi. Có lần chúng tôi đã khen vợ chồng Thi Túy đẹp như một bức tranh. Thi vừa người, da trắng, mắt sáng, mũi cao, đôi môi mỏng và lúc nào cũng đỏ như vừa được bôi một thứ son nước. Túy dong dỏng cao, mặt bầu, da trắng, hai hàng lông mi dài làm cho đôi mắt đen lay láy của cô lúc nào cũng thoáng một vẻ buồn. Để đi đến hạnh phúc hôm nay hai người đã phải phấn đấu vượt qua biết bao thử thách. Thi cùng thế hệ với Nguyễn Chính (Phan Duy Nhân), Lê Mạnh Thát, Lê Khắc Cầm, Nguyễn Đính (Trần Vàng Sao), Thân Trọng Minh ...

Năm ấy Thi mới học Đệ nhất ban văn chương thế mà anh đã tỏ ra là một người đạo diễn kịch có tài năng. Vì thế mà, nhân kỷ niệm ngày thành lập trường Quốc Học (26.12), nhà trưòng đã giao cho anh dựng một vỡ kịch. Tôi nhớ hình như là vỡ Thành Cát Tư Hãn. Trong vỡ kịch có một vai thiếu phụ ôm con, diễn tả bằng động tác, để tố cáo sự tàn bạo thê thảm của chiến tranh xâm lược. Nhân vật đi qua sân khấu chừng hai phút. Thế mà tất cả nữ sinh Đệ nhất trường Quốc Học năm đó không ai đóng được. Cuối cùng Thi đã tìm được một nữ sinh đóng thành công . Khi vỡ kịch diễn ra công chúng, thời gian kéo dài hơn hai tiếng đồng hồ mà ấn tượng sâu sắc nhất, làm cho người xem xúc động nhất là vai người thiếu phụ rách rưới, đau khổ, ôm đứa con gầy guộc quắt queo run rẩy đi qua sân khấu trong hai phút.

Người đóng vai phụ thành công ấy là Túy - một nữ sinh trường Đạo, xuất thân trong một gia đình Thiên chúa giáo. Người xúc động nhất bởi vai phụ trong vỡ kịch lại chính là người đạo diễn vỡ kịch đó. Từ lòng cảm phục trong nghệ thuật đến việc yêu nhau trong cuộc đời, hai người diễn viên và đạo diễn không chuyên ấy đã phải lòng nhau. Nhưng oái ăm thay, hai gia đình Phật Giáo và Thiên chúa giáo của Thi và Túy nhất quyết không cho họ cưới nhau. Họ bỏ đạo, từ giã gia đình, xin bạn bè tiền tàu lên Đà Lạt, nhờ bạn bè tổ chức lễ cưới. Ở đó, Túy lo nấu cơm tháng, giặt quần áo cho sinh viên lấy tiền nuôi Thi ăn học. Mùa hè năm 1966, Thi tốt nghiệp Đại học và cháu Phượng Thi cũng ra đời. Nghị lực của hai người đã thuyết phục được tình cảm của cha mẹ hai bên. Tết năm 1967, vợ chồng Thi Túy được về Huế sống với cha mẹ. Hai vợ chồng rất tự hào về hạnh phúc của mình.

Trong không khí chan hòa tình bạn, Phan đột nhiên hỏi Túy:

- Này chị Túy, một người yêu chồng rất mực như chị mà lúc này chị vẫn giữ anh Thi bình chân như vại như vầy được sao?

Túy giương mắt, đôi mí như hai tấm rèm nâng lên, đôi má hồng của cô tự nhiên phai nhạt như vừa có một luồng gió lạnh thổi qua. Cô co mình lại và nói một cách kín đáo:

 - Chuyện đó tùy anh Thi. Còn em, lúc nào em cũng muốn chồng em ngẩng mặt với bạn bè!

 Nghe Túy nói có vẻ vững vàng, tôi “tế” luôn:

- Coi bộ chị xem sắt thép của Mỹ không ra gì!

Túy cũng không vừa. Cô tỏ ra là một người hết sức thương chồng nhưng cũng là người hiểu thế nào là danh dự của cuộc sống. Cô vừa giơ tay nhặt mấy cành mai vàng rơi vãi trên bàn vừa nói:

 - Các anh cũng cùng lứa tuổi với anh Thi, các anh cũng có một tâm hồn và thể xác chứ đâu phải gỗ đá gì cho cam. Nếu chồng em làm chi được cho các anh, các anh cứ giao cho anh ấy làm. Các anh sống thì chồng em sống. Chẳng may bom rơi đạn lạc thì...thì...!

Thi nhìn vợ âu yếm. Anh tiếp lời Túy:

 - Mấy hôm nay nghe các anh về tôi cũng có ý định tìm các anh để xin làm một việc gì gọi là đóng góp với Cách mạng. Nhưng các cháu còn dại quá, hễ nghe súng nổ là hắn đeo bên lưng không rứt ra được. Nhân hai anh ghé vào thăm như vầy cũng là điều rất may. Tôi sẵn sàng nhận nhiệm vụ...

Chúng tôi mừng hết sức. Không ngờ đi chơi giải khuây một chút mà cũng được việc. Chúng tôi định mời Thi thoát ly luôn nhưng thương hai chị em cháu Phượng Thi, sợ Túy ở nhà một mình không bảo vệ cho hai cháu được. Mà nếu như không để Thi tham gia thì sau này anh chị trách Cách mạng xem thường họ làm sao? Đó cũng là một điều xúc phạm họ. Cuối cùng, chúng tôi phải đề ra một giải pháp dung hòa: bố trí Thi ở nhà, hằng ngày mở ra-đi-ô ghi chép tin tức chiến sự qua các đài phát thanh Đông Tây rồi đánh máy cung cấp cho các loa tuyên truyền của Hồ Thanh (tức Hồ Tịnh Tình). Thi biết ngoại ngữ, biết đánh máy chữ nên anh làm việc đó rất thích hợp. Lại làm việc tại nhà có điều kiện giúp Túy chăm sóc bố mẹ già và hai đứa con dại.

Nghe chúng tôi đề xuất ý kiến như vậy. Thi nhận lời ngay và anh đã làm rất tốt.

Rồi đến ngày thứ sáu, kể từ khi thành phố được hít thở giải phóng, một quả bom cối 106,7 của Mỹ từ khu Mang Cá bắn ra, nổ một cái đoành ở chính giữa cái sân nhà ở đầu đường Nguyễn Thành (nay là đường Xuân sáu tám) chúng tôi vừa mới mượn của đồng bào để làm trụ sở mới cho đội công tác thanh niên. Bốn anh em trong tiểu đội của họa sĩ Lê Văn Tài (hiện ở Úc) hy sinh, hai người bị thương  - trong đó có Lê Văn Tài. Chôn cất bốn tử sĩ và đưa hai bạn bị thương về trạm phẩu xong, chúng tôi phát hiện được ở cách đó mấy căn nhà có môt người nằm chết, trong tay còn nắm một cuộn giấy pơ-luya vo tròn. Người chết bị mảnh đạn xé mất khuôn mặt nên không nhận diện được. May sao tôi mò được trong túi quần người chết một cái ví lép kẹp, trong ví có một tấm ảnh và hai trăm đồng tiền VNCH. Giở ra xem, ôi chao, tôi giựt mình sửng sốt. Chiếc ảnh vợ chồng Thi hôm mới cưới nhau ở Đà Lạt! Chiếc ảnh đẹp như một bức tranh, như chúng tôi từng khen cặp vợ chồng này. Cuốn giấy trong tay anh có ghi tin tức Mỹ vừa đưa vào tăng viện cho khu Mang Cá một tiểu đoàn để phản kích chiếm lại cửa ngõ thông với phía đông là cửa Đông Ba. Nước mắt tôi chảy thành dòng.

Trong chiến tranh, nhất là chiến tranh đánh Mỹ, chết chóc như cơm bữa. Thế mà cái chết của Thi làm cho tôi bối rối hết sức. Phần thì thương cháu chị em cháu Phượnt Thi mồ côi cha quá sớm, phần thì lo tình hình sắp nổ súng đánh phản kích làm sao giải quyết ổn thỏa việc Thi hy sinh với gia đình anh ấy. Tôi tưởng tượng đến cảnh Túy day áo tôi tố cáo tôi đã bố trí công tác cho Thi để rồi Thi phải ra đường và bị đạn Mỹ bắn chết.

Tôi tìm Phan - một ủy viên trong chính quyền cách mạng Quận I. Theo ý Phan, nên đem chôn Thi như các tử sĩ khác. Vì nếu lúi búi với việc này Mỹ ập đến không đối phó được, anh Hiền (tức Hoàng Kim Loan) - chính trị viên Đội, sẽ không tha cho đâu. Nghe Phan nói có lý, tôi cũng muốn làm theo. Song không biết sao, thấy bất nhân quá. Đem chôn Thi rồi Túy bắt đào xác lên làm sao? Tôi biện bác cho việc hoãn việc chôn Thi rằng:

 - Túy không đến nỗi gì. Phải tin tưởng vào sự mạnh mẽ tinh thần của người thanh niên Huế chứ. Cứ cho Túy biết. Vấn đề phải giải quyết là làm sao cho cô biết từ từ, tránh mọi sự đột ngột không cần thiết, kèm theo đó là sự an ủi giúp đỡ tích cực của bọn mình.

Phan không đồng ý nhưng cũng không phản đối. Giữa lúc đó anh có việc phải đi ngay. Phan giao toàn quyền cho tôi quyết định.

Tôi nhờ một anh tự vệ lấy võng ca-ki quấn xác Thi lại thật chặt rồi bỏ vào băng ca cất giữ ở nơi an toàn. Đồng thời tôi nhờ một cậu tự vệ chạy mời Túy ra chỗ tôi.

Mưa lâm thâm. Trời lạnh buốt. Anh em co ro đi “chốt” ở các cửa và dọc trên Thành nội. Tôi ngồi đợi Túy dưới căn hầm mới dựng tạm sau hè một ngôi nhà cũng trên đường Nguyễn Thành. Nước mưa rả rích thấm qua nắp hầm rơi xuống từng giọt vàng chạch, mới nhìn thấy đã có cảm giác ớn lạnh rồi. Không biết dựa vào đâu, tôi ngồi co ro trên tấm băng lót hầm như ngồi trên một chiếc thuyền câu.

Một lúc, Túy mặt chiếc áo cụt lụa đen, ngoài khoác chiếc áo len màu lam, tay xách giỏ mây như người đi chợ sớm, tất tả theo chân anh tự vệ bước vào hầm. Mặt Túy hơi hốc hác, da xanh, khác với hôm tôi đến thăm cô ở nhà. Vừa chui vô hầm, Túy vừa nở một nụ cười, hỏi với giọng trách móc:

 - Có chuyện chi gấp vậy anh Xuân?

Tôi hơi lo, nhưng cố nói với giọng thật tự nhiên:

 - Mời chị ra chơi chứ cũng chẳng có gì gấp!

- Thôi đi! - Túy không tin, cãi lại.

- Có chút tâm sự - tôi nói giọng tình cảm - nhưng từ hôm về đến nay chưa tiện hỏi. Bữa nay ở nhà trực đơn vị nên ...

 Nửa tin nửa ngờ, Túy ngắt lời tôi:

 - Tâm sự chi mà ghê vậy? Giờ phút đang ngồi bên thùng thuốc súng như thế này mà anh còn để lòng để dạ tâm sự được nữa sao?

- Á..á! Đánh nhau rồi không còn có tình cảm à? Có cái chung cũng phải có cái riêng chứ?

Túy lại càng ngờ vực hơn, mắt liếng láo, hỏi giựt giọng:

 - Rứa anh Thi tôi ra đây đi đâu rồi? Anh cho tôi gặp anh Thi một chút - Cô thọc tay vào cái giỏ mây đựng mấy cái áo quần trẻ con và một bình sữa, xáo tìm rồi đưa ra trước mặt tôi một cái toa thuốc, hối hả nói tiếp - Chị em con Phượng Thi đau hết, tôi phải đi mua thuốc đây này!

Bị tấn công đột ngột, tôi chưa biết đối phó ra sao, bất giác há họng chối dài:

 - Khờ - ông! Thi có ra đây đâu. Chúng tôi bố trí cho anh làm việc ở nhà kia mà!

Linh tính báo cho cô biết có chuyện không hay. Túy nghiến răng xốc tới nắm áo tôi day. Cái xương nơi cổ tay cô đí vào ngực tôi đau điếng. Cô nhứt quyết một lời:

 - Không. Chồng tôi mang bản tin gấp ra cho các anh. Lúc quả moọc - chê nổ, chồng tôi đã đến đây rồi!

Không thể giấu được nữa, tôi nói trịnh trọng:

 - Chúng tôi tin tưởng ở sự tỉnh táo của chị. Tôi rất buồn phải báo tin với chị rằng anh Thi vừa bị thương và anh em đã đưa xe ô-tô đến chở anh đi trạm phẫu tiền phương rồi!

Túy bưng mặt khóc thét lên:

 - Chồng tôi bị thương rồi! Chồng tôi điều trị ở đâu? Tôi lạy anh cho tôi đi gặp chồng tôi...! Thiếu tôi, vết thương chồng tôi sẽ không bao giờ lành được! Tôi lạy anh...

Túy vừa khóc vừa xoắn áo tôi thật mạnh. Tôi nhủ thầm: “Mới báo tin có một nửa thế mà đã thấy bao nhiêu rắc rối rồi’’. Tôi đâm ra ân hận. Thật không có cái dại nào giống cái dại nào. Nghĩ đến trách nhiệm, tôi thấy mình đã phạm một sai lầm lớn. Ra trận mà còn mang theo cái bọc tình cảm tiểu tư sản.

Tôi chưa gỡ ra khỏi lúng túng thì anh tự vệ chui vào hầm nói:

 - Em ra chốt đây. Cái xác anh Thi em đã bó chặt và cất trong nhà an toàn lắm rồi.

Tôi nghẹn họng luôn!

Nghe thế, Túy trợn mắt, lẩy đảy rú lên:

 - Chúa ơi!

Hai tay bưng mặt, Túy lăn đùng ra cái sàn hầm nhếch nhác đất bùn. Tôi đỡ Túy trên hai cánh tay mình. Người cô mềm nhũn ra. Tôi đặt cô nằm dài theo tấm băng. Tôi vừa giận cậu tự vệ vô tình vừa cám ơn cậu. Tôi tự an ủi mình: “Chiến tranh nó có cái lý của nó. Dù có đau lòng đến mấy cũng phải bấm bụng mà chịu”. Nói thế nhưng lòng tôi lại không tin. Sự thực Túy đang nằm ngất đấy. Trống ngực tôi nổi thùm thụp y như lúc đợi B.52 sắp đến ném đợt bom thứ hai lên khu rừng mình đang ở.

Tôi sờ lên trán Túy. Hình như người cô cứ lạnh dần. Sợ quá, tôi liều mạng lấy hộp dầu Sao Vàng mang sẵn trong túi áo xoa lên đầu, lên trán Túy. Tôi lay cô thật mạnh mà cô vẫn không động đậy. Nước bọt trong miệng nhễu ra bên miệng. Hoảng hốt, tôi lại tìm Phan cầu cứu. Phan cũng hoảng. Anh chạy về cầm tay Túy lắc, làm động tác hô hấp nhân tạo. Phan trách tôi:

 - Xuân tiểu tư sản quá. Cứ chôn đi có phải dễ nói với Túy không. Nếu cô chết thật ở đây nữa rồi báo cáo với cấp trên ra sao đây. Mình biết với cách thương chồng mù quáng của ‘’bà này’’, ‘’bà’’ dám chết theo chồng như chơi. Mỹ đã đưa một trung đội tiến thám đánh lò dò ra phía cống Lương Y rồi. Xuân liệu chiều nay có giải quyết được chuyện này không?

Lời phê bình của Phan mà cũng là lời phê bình cuả đơn vị, tuy còn ở mức độ bình thường mà tôi đã thấy thấm thía lắm rồi. Tôi bày tỏ một cách thành khẩn với Phan:

- Mình biết sai lầm rồi. Nhưng sao mình vẫn cứ tin con trai con gái Huế họ không thể sống tồi được!

Giọng khó chịu, Phan hất hàm chỉ Túy đang nằm thiếp trên tấm băng:

-Ai không nghĩ thế. Nhưng phải tùy lúc.

Bên ngoài cơn mưa rả rích vẫn không ngớt. Gió mùa đông bắc như một lưỡi dao sắc vô hình cứa vào da thịt những chiến sĩ áo cánh, quần đùi, chân đất đang đứng trong các “chốt” dọc bức thành cổ chờ giặc đến. Thỉnh thoảng một cơn gió ẩm ướt tốc miếng tôn đậy nắp hầm lên chui vào căn hầm nhếch nhác làm cho tôi rùng mình. Thêm vào đó, Túy nằm thiếp, chốc chốc đôi môi khô khốc của cô nhếch lên nói như mê sảng: “Sao anh không dặn mẹ con em một lời? Làm sao em có thể sống mà không có anh? Đợi em với, còn chị em con Phượng Thi và con Thuận An nữa. Đợi...đợi em cùng hai con đi luôn”. Tôi càng rợn người hơn. Nhớ đến cái phút lồng lộn của Túy lúc cô mới nghe Thi bị thương mà tôi ớn xương sống. Cái phút tới đây cô tỉnh dậy với thực tế Thi đã mất cô sẽ làm những trò gì nữa đây? Có lẽ cô sẽ gào thét, nắm áo tôi xé, bắt tôi phải đền chồng cho cô chăng?

Một lúc, Túy cựa quậy rồi đưa tay lên ngực, thè lưỡi liếm môi, mắt dõi nhìn theo tôi. Tôi nghĩ trong bụng: Đấy, giờ phán quyết cái tội cả tin và chủ quan của mình đến rồi đấy! Tôi sẵn sàng chịu trận với cô đây! “Giặc Mỹ làm cho chúng tôi khổ chưa bưa, cô là bạn bè, làm chi cho bưa, cô cứ làm đi!” Túy mở mắt to hơn, hình như để nhìn cho rõ cái đầu lắc lư vì nặng trĩu những điều rối rắm của tôi. Nhưng sao rất lạ. Tôi không đọc được một tia trách móc hay giận dữ nào trong ánh mắt Túy cả. Hay là cô vẫn còn mê? Tôi càng khó hiểu hơn. Tôi thầm cầu khẩn cô trong bụng: “Chưởi bới, lôi kéo, dày vò chi cô hãy hành động mau cho với. Nếu cần cô chạy lên cấp trên của tôi nữa cũng được. Chúng tôi còn phải làm bao nhiêu việc. Mỹ nó sắp tới nơi đây rồi”. Không ngờ Tuý lại nói rành rọt và đột ngột.:

 -Xin lỗi các anh, vì thương chồng em quá, em đã làm phiền các anh!

Tôi nghe câu nói đó rất đầy đủ, trọn vẹn. Nhưng tôi lại hồ nghi với chính mình. Tôi không tin tai tôi đã nghe được một câu nói biết điều đến thế. Tôi lại hồi hộp. Hay là cô phỉnh mình để bày trò gì đây?

Có lẽ Túy thấy nét mặt sượng sùng của tôi, cô nghĩ tôi chưa hiểu cô, cô nhắc lại:

 - Xin lỗi các anh, vì thương chồng em quá, em đã làm phiền các anh. Dù sao em cũng để cho linh hồn anh Thi được tự hào với các anh!

Lần này thì tôi tin rồi! Tôi đã từng nghe Túy nói: “Còn em, lúc nào em cũng muốn chồng em ngẩng mặt với bạn bè”. Phải. Phải. Có thế chứ. Tôi thầm cảm ơn cô. Nếu chưa thoát ly cách mạng, chưa được rèn luyện tư cách người cán bộ, gặp một trường hợp xúc động như thế này chắc tôi đã chắp tay vái cám ơn cô ba vái. Ngôn ngữ dính vào nhau, tôi cố lắm mới lừa được lưỡi, bảo Túy:

- Phải lắm. Chị phải để cho hương hồn anh Thi một niềm vinh dự chứ. Không sao. Chị đừng sợ phiền chi cả. Chị khỏe được để cùng chúng tôi lo chôn cất Thi là mừng hơn hết!

Túy chậm rãi ngồi dậy. Đôi mắt cô sâu và ráo hoảnh. Nét mặt đanh lại trông cô khác quá, đến nỗi tôi cứ tưởng là không phải Túy nữa.

Túy nói tiếp, giọng bình tĩnh lạ lùng:

 - Tôi bây giờ chỉ xin các anh giúp cho một việc!

Tôi tưởng tưọng đến những khó khăn Túy phải nhờ. Dù việc đó có khó đến đâu đi nữa cũng không rắc rối bằng cái chuyện cô cứ nằm ngất xỉu ở đây. Tôi nói với tất cả nhiệt tình của mình:

- Anh mất rồi, chúng tôi phải có trách nhiệm với gia đình anh. Chuyện gì chị cứ nói, chúng tôi không ngại một khó khăn nào cả:

Túy rùng mình. Cô cầm hai chéo áo len kéo sát vào người rồi đưa tay vuốt lại mái tóc mây rối tung. Đôi mắt cô vẫn ráo hoảnh như vừa nằm ấp con dậy:

- Chồng tôi là con cầu tự. Gia đình lại chưa có một liên hệ nào với Cách mạng cả. Nếu ông bà già tôi biết các anh đã tổ chức cho chồng tôi tham gia công tác rồi bị Mỹ giết chết trong lúc đi làm việc thì chưa chắc ông bà sẽ oán Mỹ mà có khi ngược lại, họ chưởi bới các anh. Bây giờ tôi không muốn ai xúc phạm đến Cách mạng - trong đó có linh hồn anh Thi.

Như bị một cái gì chận ngang cổ, Túy đưa tay vuốt ngực rồi im lặng.

Ôi chao câu nói chí tình và đúng đắn làm sao! Tôi cảm thấy một niềm hạnh phúc bao la choàng ấp lấy tôi.Trong khoảng nửa tiếng đồng hồ mà Tuý đã làm cho tôi lo lắng đến ngộp thở, rồi lại sung sướng hy vọng. Tôi nói giọng nóng hổi:

- Vậy bây giờ chị muốn chúng tôi giúp những gì chị nói nhanh đi!

Túy nói chậm rãi như thử cô không đủ sức nói nhanh được nữa:

- Anh hãy đích thân đến nói với ông bà già dùm tôi.

Tôi hết sức yên tâm. Đã chuẩn bị vượt biển tôi không ngờ chỉ phải bưóc qua một con suối nhỏ. Sự biết điều của Túy làm cho tôi ân hận về những ý nghĩ tầm thường về cô vừa rộ lên trong tâm trí bối rối của tôi. Tôi thực hiện lời yêu cầu của Túy một cách chóng vánh.

Ngay lúc đó môt loạt pháo rơi vào cái kiệt nhà Túy. Nghe tin con mình bị Mỹ giết, ông bà già của Thi thét lên như điên như dại. Họ chưởi Mỹ không ngớt. Ông bà chạy ra mấy quả pháo vừa nổ và nằm xuống đó, thách thức:

- Bay có giỏi giết vợ chồng già tau luôn!

Hai ông bà gào thét một chặp đến ngất xỉu, bà con chung quanh chạy ra khiêng vào nhà đỗ dầu xoa bóp một lúc ông bà mới tỉnh dậy. Tỉnh rồi lại chưởi bới kêu khóc rất thê thảm.

Trong số anh em thanh niên hy sinh trong Tết Mậu Thân, đám tang của Thi được tổ chức chu đáo nhất. Đội chúng tôi trích ra hai ngàn đồng tiền VNCH để góp cùng gia đình mua một bộ phản gỗ đóng cho Thi một cái hòm. Ba đồng chí thanh niên thay nhau đến giúp Túy trong suốt thời gian cô lo liệu đám tang. Người chủ đất không cho Túy chôn Thi trong vườn nhà họ, cô đã đào huyệt chôn chồng ngay bên cửa sổ phòng ngủ của gia đình. Hai cõi âm dương chỉ cách nhau có một bức tường quen thuộc.

Mấy hôm sau Mỹ vẫn chưa vào được Thành nội. Tôi ghé thăm nhà Túy. Người cô ốm quá, đôi mắt sâu hoắm, lưỡng quyền nhô lên. Tuy thế, Túy vẫn tỏ ra tỉnh táo. Thỉnh thoảng đôi môi cô nhếch lên - dù rất gượng môt nụ cười.

Túy kể chuyện đám tang, gửi lời cám ơn sự săn sóc của ban chỉ huy Đội công tác thanh niên.Túy bồng cháu Thuận An và nói với tôi:

- Anh Xuân ơi, ngày trưóc đóng vai người góa phụ trong vở Thành Cát Tư Hãn, tôi chỉ bồng con người ta đi qua sân khấu độ hai phút mà đã có hàng ngàn khán giả khóc. Không ngờ hôm nay, tôi bồng con tôi đi qua sân khấu cuộc đời hàng mấy mươi năm nữa, nhân gian có lẽ trở thành một bể nước mắt thôi, anh ạ!

Nước mắt cô chạy quanh tròng rồi chảy thành dòng xuống đôi má hóp. Tôi đã quen cái tài đeo sầu chuốc thảm vào mình để tả oán của các cô gái Huế, nhưng khi nghe cô ta nói trong hoàn cảnh này tôi cũng không cầm được nước mắt. Mũi cay cay, tôi bảo Túy:

- Cái bơ vơ của người góa phụ trong chiến tranh thời Phong kiến có thể như thế đấy. Còn bây giờ, chị Túy ạ, dù kẻ thù hung ác còn đó, nhưng chung quanh chúng ta còn có nhân dân, còn có hàng hàng lớp lớp đồng đội, đồng chí của anh Thi đấy!

Túy đưa tay gỡ bàn tay nhỏ xíu của Thuận An đang muốn bịt miệng cô lại và ôm con thật chặt vào lòng.

Một hôm vô tình chúng tôi biết Túy bị tắt sữa và cháu Kiều Giang lại lên cơn suyễn. Chúng tôi nhẩm tính : sữa và thuốc phải ra phố Đông Ba mới có. Mà đường ra phố lúc đó rất khó khăn. Các cửa Đông Ba, Thượng Tứ là những cái túi hứng bom đạn. Ban ngày một con mèo thấp thoáng qua đó cũng bị cối, pháo dập tới giết chết ngay. Đồng bào thì cấm tuyệt không ai được lai vãng qua đó. Tôi báo cáo với anh Hiền - anh Hiền bảo tôi:

- Dù mới tham gia mấy ngày, nhưng anh Thi đã hoàn thành nhiệm vụ. Anh em còn sống phải có trách nhiệm đối với vợ con anh ấy. Giá nào các đồng chí cũng phải giải quyết cho các cháu.

Đêm hôm đó chúng tôi tổ chức hành quân đến lần thứ ba mới ra được phố Đông Ba. Hai lần đi mạo hiểm có đến bốn đồng chí bị thương phải chuyển lui sau. Các hiệu thuốc tây lúc này bị pháo bắn sập cả, thuốc men tung tóe cả đường phố. Trong đêm tối, chúng tôi vất vả lắm mới tìm được sữa bột và thuốc hen suyễn cho Phượng Thi ở tiệm thuốc tây của dược sĩ LBN. Lúc quay về mấy anh em nữa lại bị thương. Khi đem sữa và thuốc đến đưa cho Túy, tôi không kể chuyện khó khăn đêm qua với cô. Nhưng hình như, khi cầm mấy hộp sữa SMA và hai chai thuốc hen suyễn còn vương máu và mùi thuốc súng trong tay cô đoán được phần nào sự ác liệt mà chúng tôi đã trải qua. Cô nói xa xôi:

- Con tôi uống mấy thứ này có môt phần xương máu của các anh, không biết lớn lên nó có khôn hơn thiên hạ được không?

Tôi mừng thầm, nói với Túy:

- Chị đừng lo, máu mô thơm thịt nấy, xưa nay con người đã như thế rồi.

Túy nhìn tôi với đôi mắt trìu mến:

- Rất cám ơn các anh. Các anh đã nuôi cháu khỏi đói bằng sữa và nuôi tâm hồn cháu lớn lên bằng sự hy sinh của các anh.

Sau thời gian đó, địch đánh riết vào khu vực cửa Đông Ba và dọc đường Nguyễn Thành. Đơn vị chúng tôi phải xé lẻ và lui về phía khu nhà Túy. Chúng tôi có dịp sống gần gia đình cô. Túy gởi các con cho ông bà nội, suốt ngày quần quật lo cơm nước hộ chúng tôi. Và anh em trong đơn vị tự dưng xem cô thân thuộc như một đội viên của mình.

 Đến ngày thứ hai mươi, ý nghĩ giải phóng Huế không còn thực tế nữa. Chúng tôi có lệnh phải chuẩn bị rút ra để giữ nông thôn. Tin đó đến tai Túy. Cô gặp riêng tôi để xin thoát ly. Vấn đề Túy lại trở nên rắc rối. Đưa cô đi hay để cô ở lại? Cô ở lại thế nào cô cũng bị khủng bố, nhưng đưa cô đi thì các cháu Phượng Thi và Thuận An sẽ sống ra sao? Cô có đủ sức vượt qua được đoạn đường đầy bom đạn từ Thành nội này lên đến rừng xanh hay không? Đơn vị thảo luận một lúc và nhất trí giao cho tôi bàn việc để Túy ở lại.

 Tôi trình bày ý kiến tập thể với cô. Cô hỏi vặn lại:

- Các anh chưa tin tôi nên để tôi ở lại phải không?

Tôi phân tích cặn kẽ mọi lẽ thiệt hơn, cuối cùng cô cũng ra chiều đồng ý. Cô chỉ băn khoăn một điều là ở lại phải sống ra sao đây. Tôi tưỏng cô ở lại sợ địch đến khủng bố, tôi trao cho cô cái bửu bối mà những người hoạt động hợp pháp lúc cấp bách hay trao cho cơ sở của mình:

  - Nếu bị địch bắt, tra hỏi, chị cứ trả lời: “Tôi là người Thiên chúa giáo, mấy ông Xuân, ông Phan là bạn cũ của chồng tôi, họ bắt tôi theo họ, chứ tôi không phải là Việt Cộng!’’

Túy ngắt lời, với giọng trách móc, Tuý đáp:

 - Thôi anh Xuân. Nói thế nghe sao tàn nhẫn quá vậy ! Thà tôi chưa biết Cách mạng thì thôi. Bây giờ phải nói ngược thế, tôi không nói được. Các anh cứ đi đi. Miễn là các anh đừng quên tôi và các cháu con chúng tôi.

Chúng tôi chia tay Túy thật ngậm ngùi.

*

*     *

Viết thêm: Đoạn hồi ký trên tôi đã công bố từ năm 1978. Lúc ấy chưa tiện viết rõ tên một số người “trong cuộc”, lần nầy tôi viết rõ và bổ sung những thông tin cập nhật đến đầu năm 2008 để độc giả biết cái hậu của câu chuyện.

Trước năm 1980, Xuân Thi đã được công nhận là liệt sĩ. Túy được gia đình bên ngoại đưa qua định cư ở Hoa Kỳ. Gia đình Xuân Thi ở Huế cho biết vừa qua Túy về thăm quê và đi tìm thăm tôi và rất tiếc lúc đó tôi lại không có mặt ở Huế. Túy cho biết nhờ thuốc và sữa SMA của chúng tôi mà chị em hai cháu Phượng Thi và Thuận An đã sống được qua cái tết chiến tranh ác liệt Mậu thân ấy. Các cháu Phượng Thi, Thuận An năm ấy nay đã trên 40 tuổi, đã có chồng và có con học Đại học. Dù các cháu lấy quốc tịch Mỹ nhưng luôn luôn nhớ về mảnh đất Huế đã thấm máu ông ngoại Trần. 

Tôi viết đoạn hồi ký nầy thay cho một nén hương tưởng niệm 40 năm mất của liệt sĩ Trần Văn Xuân.

                                                                       Huế, 1978-2008

Cảm tưởng của một độc giả

Thanh Kiều! Anh Xuân ơi,

Loại hình chuyện kể về những người của thời tao loạn bọn mình làm tui mê hơn truyện Lộc Đỉnh Ký của Kim Dung nửa!

Chuyện kể về những kẻ thì đi theo kháng chiến  như Anh TV Xuân , vì  tìm thấy đó là lối đi hợp lý nhất ; về những kẻ thì bị bắt lính , đôn quân , hay tình nguyện đi võ bị liên quân rồi bị thương tật hoặc phải bỏ mạng trên chiến trường hay được lên lon và bị đi cải tạo lâu dài hoặc ngắn hạn ,được đi H.O hay phải ở lại Vn,

Rồi có kẻ làm ăn buôn bán bình thường nuôi con nuôi vợ hoặc có người thiếu vài tháng không được đi qua xứ Thiên Đàng , buồn tủi thân phận đâm ra giận hờn cả Mỹ lẫn Cọng Sản , năm này năm khác đến nỗi bị bệnh thần kinh vất vơ vất vưỡng ! Đó là thế hệ của chúng ta mà bà Gerstrude Stein gọi chung là The Lost Generation như bà đã gọi đám văn nghệ sĩ thất tha thất thưởng ở Paris của The Post War of WW 1 , trong đó có E. Hemingway, Fiztgerald, Picasso .... mà Hemingway kể lại trong The Movable Feast !!!! Có lẽ những thế hệ tao loạn của Chiến Tranh Việt Nam trong đó kể cả người Mỹ dù có tham chiến ở Viet Nam hay không còn bị nhiều lần traumatises hơn là những thế hệ hậu chiến của Châu Âu sau  WW1,WW2 , có phải không anh ND Xuân !

 Ba mươi năm đã qua đi , nhưng anh cứ nhìn những cộng đồng người Việt đi biểu tình, và những la lối của họ chống lại chính những cộng đồng VN ở bên cạnh họ thì Anh nghĩ thế nào , có phải đó là A lost generation bị bệnh Alzheimer của chiến tranh Việt Nam hay không ? Ở trên đất VN, chúng ta có thoát ra được những hội chứng đó hay chưa !?!?!?  Và chúng ta phải nỗ lực làm gì đây , chống ai , theo ai ?

Theo tôi thiết nghĩ , thì chúng ta cần phải đi tìm những liệu pháp chữa bệnh cho chính mình , sau đó giúp người khác. họ phải tự chữa bệnh cho chính họ ( Carl Rogers : Client Centered Therapy ! ) Sau đó bọn mình sẽ nhận tiền thù lao ,buổi chiều về Vỹ Dạ Xưa , nhìn dòng sông Hương phẳng lặng uống vài chai Hu Da ( Anh không uống thì tui uống giùm Anh!) nhắm một món  mà tui rất mê là Tầu Phụ chiên mềm ( Còn răng mô nữa Anh Xuân !!!!) Tôi sẽ hát ( Không cần đàn ! Tối hôm kia đem qua hát ở nhà Thái Kim Lan ( vừa từ đại hội PG ở Hà Nội về Huế , vào Sài Gòn rồi !) bị hỏng rồi ! Tôi sẽ hát cho Anh nghe vài bài ca từng nói lên ước vọng của những thế hệ  chúng ta trong những mùa ly loạn !

Thân mến,

caohuudien,

Những điều chưa nói đến

Nguyễn Đắc Xuân

Tôi có mặt trong cuộc tấn công Xuân Mậu Thân 1968 ở Huế với tư cách là cán bộ của lực lượng nổi dậy. Cho mãi đến sau hai ngày làm chủ Thành phố lúc đó tôi vẫn chưa hiểu công việc nổi dậy của lực lượng là gì. Tôi hỏi anh L. - Người lãnh đạo của tôi lúc đó, anh ấy bảo:

- Mấy năm tranh đấu ở Huế cậu làm gì thì bây giờ hãy làm như thế!

Tình thiệt tôi thưa:

- Hồi ấy còn sinh viên sẵn cái máu tự phát chúng tôi thấy việc chướng tai gai mắt thì chống lại. Mà đã làm thì có cái trúng cái trật chứ bây giờ được Đảng lãnh đạo làm như thế có được không?

Anh L. cười, bảo tôi với cái giọng thật thoải mái:

- Cái gì thấy trúng thì cứ làm! Làm lợi cho dân, cho Cách mạng thì làm mấy cũng được! Làm được càng nhiều càng tốt!

Bấy giờ ngồi nghĩ lại thấy các anh lãnh đạo hồi đó giao nhiệm vụ như vậy thật làm đến chết vẫn không xong. Trong những năm tranh đấu tôi cùng với anh em trong phong trào làm được một số việc nhưng thành tích chẳng có đáng vào đâu so với sự nghiệp cách mạng của nhân dân Thành phố Huế. Lúc ấy mỗi lần thấy chính quyền Sài Gòn (kể từ Tổng thống Ngô Đình Diệm cho đến hai ông Thiệu Kỳ) sơ hở để lộ bộ mặt độc tài bán nước của họ ra là chúng tôi “hội thảo” phát động tranh đấu ngay. Không những hoạt động trong phạm vi của Huế mà còn góp phần xây dựng phong trào ở nhiều nơi suốt trong các tình miền Trung. Một trong những hoạt động tranh đấu lúc ấy của tôi được nhắc đến nhiều nhất là việc tôi đã cùng bạn bè lập nên Đoàn sinh viên quyết tử Huế và sau đó nó có một ảnh hưởng dây chuyền gây nên một phong trào vũ trang đấu tranh chống Mỹ - Thiệu - Kỳ (mùa hè năm 1966) rất sôi nổi. Học sinh lập Đoàn Học sinh Ứng chiến, giáo chức với Đoàn Giáo chức chống đàn áp, công chức có Đoàn Công chức xung kích, binh lính quân đội Sài gòn về nghỉ phép ở Huế họp lại lập nên Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức (tên người sĩ quan ám sát hụt tên tướng Huỳnh Văn Cao và bị bắn trả chết ở Mang Cá), nữ sinh có Đoàn Nữ sinh cứu thương, ngay cả Phật tử với tinh thần đấu tranh bất bạo động trăm phần trăm thế mà cũng lập nên một lực lượng mới mang tên là Bách nhân đội đi học quân sự rồi vũ trang sẵn sàng đương đầu với binh linnhs Mỹ Thiệu Kỳ bằng máu lửa. Phát huy truyền thống ấy vào Tết Mậu Thân tôi và một số anh em đã vận động thành lập Đội Công tác Thanh niên Huế và đã hoạt động một cách sôi nổi suốt 26 ngày đêm làm chủ Huế. Những kỷ niệm trong những ngày đấu tranh này tôi có dịp ghi lại trong một hồi ký nhỏ in trong tập Huế Những Ngày Nổi Dậy do nhà Tác phẩm Mới xuất bản năm 1980 tại Hà Nội. Trong bài này tôi ghi tiếp những niệm Tết Mậu Thân trong một lĩnh vực hoạt động khác.

*

*     *

Cho đến ngày Tết Mậu Thân, đã ba lần tôi được chứng kiến những sĩ quan binh lính của binh đội Sài Gòn ra trình diện đầu hàng đầu thú: Lần thứ nhất năm 1963 sau khi chính phủ Ngô đình Diệm bị lật đổ, những binh lính sĩ quan phục vụ dưới trướng gia đình họ Ngô ra trình diện với lực lượng sinh tranh đấu (đa số là sinh viên Phật Tử); lần thức hai mùa hè năm 1966, lúc phong trào ly khai với chính phủ Thiệu Kỳ, những binh lính sĩ quan (đủ các binh chủng) của quân đội Sài Gòn về Huế nghỉ phép xin ra trình diện với lực lượng tranh đấu và hình thành nên Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức chống lại quân đội dưới tay Thiệu Kỳ. Đến Tết Mậu Thân là lần thứ ba. Lần này quân đội Sài Gòn phải trình diện với lực lượng Cách mạng của Thành phố. Tính chất của ba lần ấy hoàn toàn khác nhau, nhưng hình thức thì cũng không có gì dị biệt.

Thế hệ thanh niên lứa tuổi tôi không được may mắn gắn vào những sự kiện lớn của cách mạng dân tộc như Phong trào Cách mạng Tháng Tám 1945 để định hướng cuộc đời mình như các lứa tuổi đàn anh của chúng tôi. Hoàn cảnh xã hội sống trong vùng tạm bị chiếm của chúng tôi hết sức phức tạp. Biên giới của những phải - trái, đen - trắng cứ dính vào nhau. Mặc dù đa số chúng tôi là vô thần (athéisme) nhưng phần lớn đều tin “thành bại, nên hư” hình như đều chịu sự chi phối của sự may mắn (chance). Một người hiền lành làm thơ tình mộng mị không may bị bắt làm lính nguỵ rồi trở thành những tên lấy việc giết dân làm “nghệ thuật sống” của mình, một nhóm thanh niên phóng túng luôn luôn tìm đến với cái mới, ước mơ về cái đẹp có dịp theo cách mạng trở thành những chiến sĩ anh dũng kiên cường, có người đi mua sắm quần áo, chuẩn bị tư trang để thoát ly thì trên đường Đông Hà vào Huế bị xuông đạn của du kích Phong Điền, chết và được một đơn vị quân đội VNCH truy điệu như một chiến sĩ có thành tích chống Cộng. Có không ít trường hợp đi thoát ly gặp lúc đường dây tắc, bị địch đi càn bắt lính và chết trước mũi sống của Cách mạng...Ngược lại cũng có nhiều người không thích cạch mạng nhưng may mắn nhờ bạn bè móc nối và đưa vào hoạt động trở nên những người có tiếng tăm. Trong giới bạn bè tôi có hàng trăm dẫn chứng nói lên sự chi phối của sự may mắn. Điều may mắn trong hoàn cảnh chúng tôi là cơ hội để đứng về phía chính nghĩa. Dĩ nhiên có nhiều người không thích Cách Mạng (vì nhiều lý do), song đông tây, kim cổ xưa nay cái luân lý của người công dân là khi đất nước bị ngoại xâm mà không cứu nước là phi nghĩa. Quá khứ, hiện tại đã thế rồi tương lai cũng không khác được. Do đó món quà tặng cho nhau lúc ấy có lẽ không có gì có ý nghĩa cho bằng tạo cho nhau một cơ hội tham gia cách mạng. Tôi trở lại Huế trong Tết Mậu Thân với những ý nghĩ nóng bỏng ấy.

*

*     *

Trong mấy ngày đầu, sau cái phút bỡ ngỡ, những người ăn lương và cầm súng cho chính quyền Sài Gòn ra trình diện với Cách mạng rất đông. Tôi hoạt động ở Thành nội quanh khu vực từ cửa Đông Ba đến cửa Thượng Tứ. Những người ra trình diện tôi gặp có người là thầy cũ, người là bạn học, người là bạn tranh đấu của tôi và cũng có lắm người trước kia là đối thủ của sinh viên học sinh trong các cuộc tranh đấu. Sự vui buồn, tin tưởng hay lo lắng trước Cách mạng mỗi người có mỗi tâm trạng khác nhau. Ai đã ra trình diện thì được cấp một cái giấy xác nhận. Cầm cái giấy ấy nhiều người thật không yên tâm. Và chính bản thân của tôi thấy nó cũng chưa thật sự có ý nghĩa. Tôi nẩy ra ý nghĩ phải biến cái giấy ấy thành một cơ hội. Và câu nói của anh L. bảo tôi: “Mấy năm tranh đấu cậu làm được cái gì thì bây giờ cứ làm như thế” nhắc tôi nên tập họp những người tiêu biểu vừa ra trình diện thành một tổ chức gì đó nếu họ không làm gì được tốt cho nhân dân thì ít ra họ cũng yên tâm và không làm gì xấu.

Tôi lên trên thượng thành, đoạn nhìn thẳng vào khu vực chợ Xép để thăm ông thân của anh Nguyễn Thiết - bạn tôi, thì thấy có một người đàn ông đầu húi cua, nước da sạm nắng, mặc vét-tông đen, bên trong có sơ-mi, cổ thắt cà-vạt nghiêm chỉnh đang ngồi uống nước trà với mấy người lớn tuổi. Trông cái vét-tông hơi nhàu sau lưng và nó không hợp với cái đầu húi cua của người ấy tôi đấm hoài nghi, tôi hỏi đột ngột:

- Anh là sĩ quan VNCH vừa về nghỉ Tết hả!

Người ấy nhìn tôi và đáp lại với cái giọng không giấu được sự ngạc nhiên:

- Vâng. Tôi vừa đi trình diện về!

- Thế tốt rồi. - Tôi đáp

- Nhưng, thưa anh...! - Người ấy hạ giọng và muốn bày tỏ điều gì.

Bây giờ đến phiên tôi ngạc nhiên. Tôi nhìn anh ta và chưa biết hỏi gì. Mấy người lớn tuổi hiểu ý tôi, giải thích:

- Nó lại đi trình diện với tư cách là công chức ở Ty Thủy nông!

- Sao vậy! - Tôi hỏi

- Vì em sợ các ông nghe em là sĩ quan, mấy ông giận bắn em bỏ mạng giữa ngày Tết tội nghiệp em lắm. - Người ấy đáp.

Tôi hỏi kỹ thì được biết người ấy tên là Nguyễn Văn L. đại uý bộ binh, đơn vị đóng ở Đông Hà vừa về nhà ăn Tết. Anh ta có bà con bên ngoại của Nguyễn Thiết. Lúc chưa bị động viên, L. đã từng đi theo Nguyễn Thiết tranh đấu làm nhiệm vụ bảo vệ Thiết.

Sau một lúc tiếp xúc, người đại úy ngụy L. trách tôi:

- Hồi ấy các anh có tuy-dô theo Giải phóng, sao mấy anh không kéo em đi với. Để cho em bây giờ đâm ra là người có tội!

Tôi đang nóng ruột đi tìm thăm ông thân của Thiết nhưng nhân gặp đây tôi tranh thủ tay đại úy này luôn:

- Anh biết thế là tốt rồi. Nhưng bây giờ cũng chưa muộn!

- Nhưng liệu Giải phóng có tin em không?

- Tin hay không tin tuỳ ở hành động của anh.

- Thế thì em có thể làm được gì?

- Anh còn nhớ chiến đoàn Nguyễn Đại Thức không?

- Vâng nhớ lắm - L. reo lên - Lúc đó em mới thiếu úy, chính em chỉ huy một tiểu đội mà, em đi với anh Ngô Kha vào giữa đèo Hải Vân, may không thôi bị tụi dù của Thiệu Kỳ bắn bỏ mạng dưới chân đèo rồi!

Cái quá khứ tranh đấu lỏng lẻo, mỏng manh không ngờ giờ nầy lại đâm ra có tác dụng. Thấy L. đã quên mất sự lo lắng ban đầu, tôi nói:

- Lúc ấy anh chỉ huy một tiểu đội ly khai, bây giờ anh nên tập họp anh em để chỉ huy cho được một tiểu đoàn đánh nhau thật sự với Mỹ Thiệu Kỳ đi!

L. vui vẻ nhận lời và đi kêu gọi những lính tráng đã trình diện, thành lập “Đoàn Nghĩa Binh”. Chỉ trong vòng vài ngày L. đã tập họp thêm hàng trăm người. Nhiều đồng chí sợ lực lượng nầy khi thuận lợi thì theo, lúc khó khăn thì quay súng gây ra rắc rối nên chỉ để tồn tại vài chục người còn phần lớn phân tán nhỏ về các đội công tác, các đơn vị phục vụ chiến đấu. Đoàn “Nghĩa binh” đã giúp chúng tôi kêu gọi được nhiều binh lính ngoan cố đang lén lút ẩn núp lâu nay ra trình diện. Riêng L. giúp chúng tôi huân luyện thanh niên Huế sử dụng AR 15 và lựu đạn US. Vào khoảng nửa tháng 2- 1968, địch phản kích mạnh, L. bị thương trên đường Đoàn Thị Điểm, sau đó anh được đưa đi Trạm phẫu tiền phương, rồi không rõ anh có thoát được những trận bom pháo huỷ diệt của Mỹ sau đó không. Một số binh sĩ được phân về đội Công tác thanh niên đã chiến đấu rất anh dũng lúc đơn vị bị Mỹ tấn công tại làng Trúc Lâm. Tôi còn nhớ các cậu ấy có cậu là lính “Biệt đông quân”, “Nhảy dù” và “Thuỷ quân lục chiến”...Sau các cậu đều hy sinh khi Mỹ nã một quả cối cá nhân vào ngay trong hầm của các cậu.

Sau khi “thành lập” được đoàn nghĩa binh, tôi thấy lực lượng cảnh sát ở Huế ra trình diện cũng nhiều, nên cũng xin ý kiến các anh lãnh đạo lập thêm “đoàn Cảnh sát nghĩa binh”. Lực lượng cảnh sát rất phức tạp. Nói rằng cảnh sát “vô sự” cũng được, vì phần lớn những người nầy sợ ra chiến trường nên đã đút lót xin vào cảnh sát chỉ biết giữ trật tự giao thông trong xã hội, nhưng nói họ là “thú dữ” cũng được vì giữa cảnh sát và công an mật vụ chuyên làm tình báo, nghề nghiệp đâu có xa xôi gì. Đối với tôi có được một chút thuận lợi. Trong những năm tranh đấu, lực lượng cảnh sát có tham gia, những người tiêu biểu ở địa phương đã thể hiện rõ xu hướng chính trị của họ. Không những thể hiện qua lời nói mà còn thể hiện qua hành động.

Chúng tôi họp nhau trong một ngôi nhà ở đường Nguyễn Thành bàn về việc tìm người đứng đầu đoàn nghĩa binh cảnh sát. Kết thúc cuộc họp, các đồng chí phụ trách khởi nghĩa ở Thành nội cử tôi và Đặng Văn Sở đến gặp Quận Cán - là người có cấp bậc cảnh sát cao nhất ở khu vực này. Sở dĩ chúng tôi chọn Quận Cán vì trước đây cứ mỗi lần địch sắp đàn áp phong trào tranh đấu, Quận Cán thường báo trước cho chúng tôi một vài giờ để chuẩn bị đối phó. Mỗi lần Quận Cán phải chỉ huy lực lượng đàn áp hoặc giải tán các cuộc hội thảo, mít-tinh thì Quận Cán chỉ làm cho có lệ rồi rút quân về. Cũng có lần Quận Cán đến xin chúng tôi hãy “tạm thời rút lui” để cho ông “hoàn thành nhiệm vụ”, rồi sau đó hãy tập trung trở lại. Nếu chúng tôi tỏ ra “găng” thì ông tự rút lực lượng của ông. Có sự quen biết trước và có “ơn nghĩa” với nhau như thế nên chúng tôi gặp Quận Cán rất tự nhiên.

Quận Cán ở trong một ngôi nhà cổ thấp lè tè ở đường Ngô Đức Kế (gần đường Đinh Công Tráng). Trong nhà thiếu ánh sáng chỗ nào cũng thấy cột trụ đứng choán hết chỗ ở. Nhưng không khí trong nhà trông không có vẻ nặng nề như những nhà có con em là sĩ quan uý tá của quân đội Sài Gòn. Chúng tôi vào nhà giữa lúc Quận Cán đang đào đất giữa nền nhà làm hầm trú ẩn. Thấy chúng tôi, Quận Cán bỏ dở công việc, xoa xoa hai tay chạy ra nói giọng sốt sắng:

- Anh Xuân, anh Sở theo lịnh của các anh tôi đang chuẩn bị làm hầm đây. Sao, cần việc chi không?

- Có một việc cần bàn với anh không biết anh có vui lòng không?

Quận Cán lo lắng:

- Không biết chuyện lành hay dữ đó, các anh?

Tôi nói nửa thật nửa đùa:

- Chuyện lành thôi. Nhưng nếu anh thấy nó dữ thì cố gắng làm sao cho nó lành!

Quận Cán nhìn tôi rồi nhìn Sở:

- Thiệt không anh? Nghe nói sao tôi lo quá?

Sở trấn an Quận Cán:

- Đầu năm nói chơi với anh cho vui, chớ chuyện chỉ có thế nầy thôi: Anh em cảnh sát ở đây muốn họp lại thành một tổ chức để tham gia cách mạng, họ muốn mời anh làm người phụ trách chung. Không biết ý kiến anh như thế nào?

Quận Cán càng lo lắng hơn, giọng van xin:

- Tôi rất hân hạnh được sự tín nhiệm ấy nhưng hoàn cảnh tôi quá khó khăn mong các anh thông cảm và tìm giùm người khác thay cho!

Tôi dồn Quận Cán vào thế chẳng đặng đừng:

- Chuyện nầy đối với anh có gì khó khăn đâu. Anh đã từng làm hồi mùa hè năm 1966! Anh từ chối chẳng qua anh không muốn hưởng ứng Cách mạng thôi!

Quận Cán nói giọng năn nỉ:

- Nói thế tội tôi anh Xuân ơi! Tôi ở vào cái thế kẹt. Một là bà mẹ tôi quá yếu, tôi mà đi tham gia với các anh thì ở nhà không có ai săn sóc bà, hơn nữa trong sổ đen của chính phủ Thiệu Kỳ đã ghi gia đình tôi có nhiều người đang ở miền Bắc, nhỡ ra các anh lại đi, chúng tôi không biết nương tựa vào ai!

Tôi thuyết phục thêm:

- Chuyện bác yếu chúng ta sẽ tìm cách giúp bác, còn anh thì đây là một cơ hội tốt để những người thân của anh ở miền Bắc khỏi lo lắng về anh, nếu anh tính toán lắm đôi khi hối hận suốt đời!

Quận Cán trầm ngâm suy nghĩ rồi nói giọng thận trọng:

- Thôi thế thì xin các anh trưa nay tôi sẽ trả lời. Dù sai tôi cũng phải xin ý kiến mẹ tôi!

Trưa hôm đó, giữ đúng hẹn Quận Cán ra “trụ sở” gặp tôi, ông nói:

- Tôi cũng liều các anh ạ! Vô lẽ các anh đã có ý mà tôi không nhận lời thì còn mặt mũi nào mà gặp lại các anh. Chỉ xin các anh một điều kiện: Khi nào mẹ tôi cần phải có mặt tôi bên cạnh thì xin các anh cho tôi được làm theo ý bà!

Thế là Quận Cán trở thành “đoàn trưởng đoàn cảnh sát nghĩa binh”. Hôm ra mắt đoàn cảnh sát nghĩa binh Quận Cán mặc đồng phục đội mũ két, trông cũng có uy thế. Không rõ trong bụng ông ta nghĩ về Cách mạng như thế nào nhưng sự tham gia của ông đã có tác động ổn định được phần nào tư tưởng của những người cảnh sát đã ra trình diện với các lực lượng cách mạng. Lúc ấy Đoàn cảnh sát nghĩa binh có nhiệm vụ kêu gọi cảnh sát ra trình diện, làm công tác hậu cần, chôn cất người chết, làm vệ sinh những nơi bị bom pháo Mỹ cày xới. Đến lúc địch bắt đầu phản kích vào Thành nội “đoàn” góp phần giữ dân để phá kế hoạch “tát dân” để “tự do” pháo kích của địch. Nhưng thấy giữ dân như thế cũng không ngăn chặn được phản ứng của địch, lại có lệnh cho dân di tản đến các vùng yên tình. Bà mẹ của Quận Cán yêu cầu qua khu Gia Hội, ông ta đến xin ở nhà để đưa mẹ đi. Giữ lời hứa ban đầu, chúng tôi xin phép các đồng chí lãnh đạo để cho Quận Cán đưa mẹ đi.

Sau chiến dịch Xuân Mậu Thân các lực lượng cách gặp khó khắn phải kùi về căn cứ. Vì thế tôi không biết số phận Quận Cán sẽ ra sao khi Mỹ nguỵ chiếm lại thành phố Huế. Không ngờ một buổi chiều, vô tình mở đài phát thanh Huế, tôi nghe giọng tỉnh trưởng Phan Văn Khoa rổn rảng nói về chuyện hắn trả thù những người đã tham gia Cách mạng trong những ngày Xuân Mậu Thân. Giọng thật gay gắt, hắn lên án Quận Cán “đã đầu hàng Cộng Sản”. Tôi đoán Quận Cán không thể nào thoát khỏi được lao tù của chính quyền tay sai Mỹ.

Thế rồi những sự kiện cách mạng mới lại xảy ra làm cho tôi không còn thì giờ để nhớ cho hết chuyện Tết Mậu Thân nữa. Mãi cho tới sau ngày thống nhất đất nước 30-4-1975, trong bữa tiệc trà đám cưới cô bạn cũ của tôi, tôi gặp một đồng chí cán bộ mặc đại cán ka-ki đến bắt tay hỏi chuyện làm quen với tôi. Nhìn đồng chí ấy tôi hơi ngờ ngợ:

- Trông anh quen quen, nhưng xin lỗi tôi không nhớ đã gặp anh ở đâu!

Người tôi nhận lầm đáp lại:

- Anh chưa gặp tôi đâu. Tôi là Nguyễn Văn Th. Ở miền Bắc mới về. Tôi định tìm anh nhưng không ngờ lại gặp anh ở đây!

- Có gì quan trọng  không anh? - Tôi phân vân hỏi.

- Đối với chúng tôi thì rất quan trọng, về nhà nghe mẹ tôi kể chuyện gia đình tôi định đến thăm anh và cám ơn anh đã tạo cơ hội cho thằng em tôi nó tham gia cách mạng, tuy nó không tham gia được lâu nhưng ít ra nó cũng tránh được cho gia đình cái nhục đã có một người con bị Cách mạng xử lý!

- Xin lỗi. Tôi nhớ không lầm, hình như chúng ta đã gặp nhau ở đâu đó thì phải?

Người ấy mỉm cười:

- Chúng ta chưa gặp nhau lần nào cả. Tôi ở miền Bắc mới về. Tôi là Th. Anh ruột của thằng Quận Cán Anh còn nhớ không?

Tôi đứng bật dậy:

- Quận Cán à? Làm sao mà tôi quên cho được. Trông anh giống ông Cán như tạc. Hèn chi tôi thấy anh quá quen...Bây giờ ông Cán ra sao rồi anh?

- Sau vụ đó, nó bị ngụy quyền tước hết chức vụ rồi tống giam. Hiện nay nó đứng đầu một cơ sở làm lốp ô-tô ở thành phố Hồ Chí Minh.

- Thế hả! Anh cho tôi gởi lời thăm ông Quận Cán.

*

*     *

Mỗi lần chúng tôi có dịp nhắc lại những ngày Xuân lẫy lừng ấy, bên cạnh hình ảnh Quận Cán, người sĩ quan cảnh sát VNCH, tôi còn nhớ biết bao nhiêu người, ở những vị trí, hoàn cảnh khác nhau, đã có những đóng góp không nhỏ vào chiến dịch lịch sử. Và tôi chợt nghĩ “Trong chiến tranh, người ta hay nói đến phần “cứng” của nó là sắt thép. Nhưng nó lại được nhớ mãi bằng cái phần “mềm”. Đó là những tấm lòng...”.

                                                    Huế, 8-1987

             (Trích Huế Xuân 1968, Thành ủy Huế -1968)  

                                                                   

 
 
Các bài Giao lưu - Đối thoại khác
Các bài Phóng sự - Bút ký