Thư gửi Đồng chí Hoàng Tuấn Anh - Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể Thao và Du lịch
Vừa qua tôi được xem cái CD ghi lại buổi nhạc sĩ Phạm Duy giới thiệu Trường ca Hàn Mặc Tử tại Hà Nội, tôi rất mừng được thấy ông Bộ trưởng Văn hóa Thể thao và Du lịch quen biết của tôi gặp gỡ nhạc sĩ Phạm Duy hết sức thân tình. Sự kiện đó nẩy ra trong tâm trí tôi ý tưởng viết thư thăm anh và nhân đó được gởi đến anh vài suy nghĩ liên quan đến nhạc sĩ Phạm Duy.

Huế, ngày 15 tháng 6 năm 2012 

Anh Hoàng Tuấn Anh kính mến,

Vì đây là một lá thư riêng của một người hoạt động văn hóa gởi cho một đồng chí từng quen biết nhau ở miền Trung đang giữ cương vị lãnh đạo văn hóa ở Trung ương nên xin anh cho phép tôi được viết thư cho anh với tư cách một người quen chứ không phải với tư cách một người cầm bút hưu trí viết thư gởi ông Bộ trưởng Văn hóa. Nếu như thế là thất lễ thì kính mong anh thứ lỗi.

Thưa anh,

Cuộc đời nhạc sĩ Phạm Duy, hay dở như thế nào chúng ta đều biết. Và, chính nhạc sĩ Phạm Duy cũng đã tự biết và ông cũng không giấu giếm gì. Tôi tuy nhỏ hơn Phạm Duy đến 16 tuổi, lại không hoạt động trong môi trường âm nhạc, nhưng do hoạt động chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở các đô thị miền Nam trước đây, tôi cũng chia sẻ một phần cái hay và cái không hay của nhạc sĩ Phạm Duy. Như các anh ở Đà Nẵng đã biết, tôi xuất thân là một Phật tử, bị ảnh hưởng Thiền từ bé nên tôi quan niệm: Quá khứ đã qua rồi, tương lai chưa tới, tôi rất quý giây phút hiện tại. Do đó tôi xem trọng nhạc sĩ Phạm Duy trong hiện tại nầy.

Dưới mắt tôi, hiện tại của nhạc sĩ  Phạm Duy là:

1. Một người tin tưởng về sự đổi mới của Việt Nam, hưởng ứng Nghị Quyết 36, dám chấp nhận sự xúc phạm đến nghiệt ngã của các thế lực thù địch Việt Nam dành cho ông. Ông kết thúc cuộc sống lưu vong để về nước làm công dân Việt Nam, tiếp tục phụng sự đất nước bằng âm nhạc và mong được chết trên quê hương Việt Nam;

2. Suốt bảy năm (2005-2012) về nước, từ tuổi 85 đến tuổi 92, ông đem con cháu về phục vụ dân tộc, góp phần chứng tỏ cho thế giới thấy Việt Nam đã có sự đổi mới thật sự. Bản thân ông không ngừng cống hiến bằng sáng tác (minh họa Kiều, phổ hàng chục tuyệt tác thơ của Bích Khê…), viết sách để lại cho đời sau những kinh nghiệm vận dụng dân ca vào tân nhạc, làm lời Việt cho nhạc ngoại quốc, phổ thơ, ghi lại kỷ niệm với những nhạc sĩ lớn của dân tộc, góp tư liệu cho lịch sử tân nhạc Việt Nam..v.v.), biểu diễn, giới thiệu âm nhạc trong nhiều chương trình lớn từ Nam ra Bắc .v.v,

3.Với sự hướng dẫn và cổ vũ của ông, nhiều tài năng thanh nhạc trẻ nối được kho tàng âm nhạc tiền chiến vô cùng phong phú trong quá khứ với nền âm nhạc Việt Nam hiện đại;

4. Với trên dưới nửa thế kỷ phân chia “quốc cộng” và lưu vong ở nước ngoài rất nặng nề, sau khi có Nghị quyết 36, ông về Việt Nam, sống trong lòng dân tộc, ông có gần 1/10 sự nghiệp âm nhạc to lớn của ông được lưu hành, biểu diễn, được người yêu nhạc cả nước hoan nghinh, ông rất tự hào;

5. Hạnh phúc nhất của ông là khát vọng thống nhất Việt Nam, thống nhất dân tộc mà ông theo đuổi hơn nửa thế kỷ qua đã trở thành hiện thưc như bài viết của tôi vừa đăng trên Nghệ Thuật Mới mà tôi rất hân hạnh được gởi đến anh kèm theo lá thư nầy.

Nhưng thưa anh,

Từ năm 1975 và 2001, tôi được anh Tố Hữu giao nhiệm vụ cùng với bạn bè “tạo điều kiện giúp cho nhạc sĩ Phạm Duy tiếp tục sáng tác” để phục vụ dân tộc, Từ năm 2005, nhạc sĩ Phạm Duy về nước, tôi có nhiều dịp được gần ông, hiểu được tâm sự sâu lắng của ông trong những tháng ngày nầy.

A) Từ năm bước qua tuổi 90, sức khỏe của ông kém đi rất nhiều. (Ví du như sau hôm giới thiệu Trường ca Hàn Mặc Tử ở Hà Nội, về lại TP HCM ông phải đi cấp cứu, may là cứu được). Tuy ông vẫn say sưa làm việc nhưng cũng sẵn sàng ra đi bất cứ lúc nào. Ông không còn tính năm, tính tháng, tính tuần nữa mà tính ngày, thậm chí tính cả buổi, cả giờ. Chúng tôi khuyên ông nên nghỉ ngơi, ông đáp: “Tôi không thể sống mà không làm việc. Tôi là một nghệ sĩ, môt nhạc sĩ, hạnh phúc nhất của tôi là được chết trên sân khấu, được chết trên phím đàn”. Điều làm cho ông bận tâm nhất: Không biết đến tháng năm nào thì những tác phẩm còn lại của ông (cùng loại, cùng nội dung với những nhạc  phẩm đã đươc cấp phép) được cấp phép;

B) Ông rất thương thanh thiếu nhi, ông có nhiều nhạc phẩm dành cho các cháu, giúp nuôi dưỡng tâm hồn Việt cho các cháu, nhưng cho đến nay các nhạc phẩm ấy chưa được cấp phép nên các cháu chưa được hát. Đó là một thiệt thòi cho các cháu;

C) Đặc biệt hai trường ca Con đường cái quanMẹ Việt Nam có giá trị nhất của ông (giá trị về âm nhạc, nội dung thể hiện sâu sắc mang nặng tinh tự dân tộc khớp với tinh thần Nghị quyết 36 của Việt Nam hiện nay). Ông khát vọng trước khi vĩnh biệt cuộc đời ông được nghe dân ta hát hai trường ca ấy giống như Trường ca Hàn Mặc Tử vừa được trình bày ở Huế và Hà Nội vừa rồi. 

Với tư cách là một người nghiên cứu lịch sử văn hóa của cách mạng tôi xin gởi đến anh mấy ý kiến sau:

a. Nhạc sĩ Phạm Duy là người của ta rồi. Dù hoàn cảnh cũ ông có thể có những thiếu sót, nhưng sự nghiệp âm nhạc của ông để lại cho dân tộc ta thì vô cùng to lớn. Ông đã kịp trở về với dân tộc và đã có tác dụng rất tốt. Rút kinh nghiệm khi Trịnh Công Sơn còn sống ta không kịp vinh danh Trịnh Công Sơn, đến khi Sơn mất ta muốn vinh danh thì cũng không còn cơ hội, cho nên đối với Phạm Duy khi ông còn tại thế ta cũng phải làm một cái gì đó để Phạm Duy là người của ta. 

b. Đối với Phạm Duy, tác phẩm của ông để đời là sự vinh danh bền vững nhất. Cho nên chúng ta nên vinh danh nhạc sĩ Phạm Duy bằng cách thấy những tác phẩm nào của ông có thể cho lưu hành được thì quyết định cho lưu hành ngay chứ không nên cho từng đợt năm mười tác phẩm như lâu nay;

c. Nếu chưa thực hiện được những đề xuất trên của tôi thì đề nghị Bộ trưởng và Cục biểu diễn nghiên cứu cho lưu hành các bài hát về Huế, Về miền Trung, đặc biệt là hai trường ca Con đường cái quanMẹ Việt Nam; thậm chí  tất cả những đề nghị của tôi đều chưa tiện thực hiện thì xin anh hãy cho hát bài Việt Nam Việt Nam  - bài hát kết thúc Trường ca Mẹ Việt Nam. Bài hát nầy dành cho UBMTTQ VN và Hội người Việt Nam ở nước ngoài thì thích hợp vô cùng.

”Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời
Việt Nam hai câu nói bên vành nôi
Việt Nam nước tôi.
Việt Nam Việt Nam tên gọi là người
Việt Nam hai câu nói sau cùng khi lìa đời
Việt Nam đây miền xinh tươi
Việt Nam đem vào sông núi
Tự do công bình bác ái muôn đời
Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu
Việt Nam trên đường tương lai,
Lửa thiêng soi toàn thế giới
Việt Nam ta nguyện tranh đấu cho đời
Tình yêu đây là khí giới,
Tình thương đem về muôn nơi
Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người
Việt Nam! Việt Nam!
Việt Nam quê hương đất nước sáng ngời
Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam muôn đời”

Tôi cũng xin nói thêm: Bài hát nầy ra đời ở miền Nam năm 1965, nhưng chính quyền VNCH không công nhận. Nhưng bất cứ người Việt Nam nào ở miền Nam trước đây, hay ở nước ngoài sau năm 1975, nếu họ thấy tự hào mình là người Việt Nam thì họ đều thích hát bài Việt Nam Việt Nam.  Ở trong nước ai cũng thấy bài Việt Nam Việt Nam vinh danh đất nước, vinh danh dân tộc rất hay nhưng rất tiếc bài hát ấy chưa được cấp phép. Bây giờ nếu được cấp phép nhạc sĩ Phạm Duy sẽ rất vui được đóng góp bài hát đó cho Việt Nam thời hội nhập quốc tế, UBMTTQ VN và Hội Người Việt ở nước ngoài có một bài hát hay. Nếu có ai đó nói “bài Việt Nam Việt Nam đã bị những người chống Việt Nam ở nước ngoài hát nên ta không tiện cho phép hát trong nước”, nói như thế thì không cùng. Bởi vì trên 1/10 sự nghiệp âm nhạc của Phạm Duy đã được Bộ cấp phép có bài nào các lực lượng thù địch ở nước ngoài chưa hát đâu? Vấn đề là tác giả Phạm Duy muốn giao bài đó cho ai thì người đó được làm chủ. Chế độ ta chấp nhận và cấp phép cho bài Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy, thì bài đó là sản phẩm của chế độ ta.

Thưa anh Hoàng Tuấn Anh,

Tôi mong có dịp được gặp thăm anh và trình bày cặn kẽ hơn về nhạc sĩ Phạm Duy. Tôi cũng xin hứa với anh, tôi sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, vào bất cứ lúc nào để giải trình với bất cứ ai về con người và sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy.

Lần đầu tiên viết thư gởi đến anh và lại viết quá dài. Tôi đã 76 tuổi, qua cái tuổi cổ lai hi lâu rồi, biết đâu không còn cơ hội viết thư cho anh nữa, cho nên đã viết là xin viết cho hết ý nên đã làm mất nhiều thì giờ của anh, kính mong anh thông cảm. 

Kính chúc anh sức khỏe. Cám ơn anh đã bỏ chút thì giờ quý báu đọc cái thư dài dòng văn tự của tôi.

Kính chào anh.

Nguyễn Đắc Xuân

 
 
Các bài Giao lưu - Đối thoại khác